III. TIỀN TỆ
1. Lịch sử ra đời của hình thái giá trị và bản chất của tiền tệ
Hàng hóa là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị. Về giá trị sử dụng, tức hình thái tự nhiên của hàng hóa, ta có thể nhận biết trực tiếp được bằng giác quan. Nhưng về mặt giá trị, tức hình thái tự nhiên của hàng hóa, nó không có một nguyên tử vật chất nào, nó chỉ biểu hiện ra trong trao đổi, nghĩa là trong mối quan hệ giữa các hàng hóa với nhau. Chính vì thế, thông qua sự nghiên cứu các hình thái biểu hiện của giá trị, qua các giai đoạn phát triển lịch sử, chúng ta sẽ tìm ra nguồn gốc phát sinh tiền tệ, hình thái giá trị nổi bật và tiêu biểu nhất.
a. Sự phát triển của hình thái tiền tệ
* Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên
Đây là hình thái phôi thai của giá trị, xuất hiện trong giai đoạn đầu của trao đổi hàng hóa, khi trao đổi chỉ mang tính chất ngẫu nhiên.
Ví dụ: 1 m vải = 10 kg thóc
Ở đây, giá trị của vải được biểu hiện ở thóc. Còn thóc là cái được dùng làm phương tiên để biểu hiện giá trị của vải.
Tuy là hình thái giản đơn, nhưng bản thân nó không giản đơn, lại bao gồm hai hình thái: Hình thái tương đối và hình thái ngang giá. Hàng hóa mà giá trị của nó được biểu hiện ở một hàng hóa khác thì gọi là hình thái tương đối. Còn hàng hóa mà giá trị sử dụng của nó biểu hiện giá trị của hàng hóa khác gọi là hình thái ngang giá. Hình thái ngang giá có ba đặc điểm: Giá trị sử dụng của nó trở thành hình thức biểu hiện giá trị, lao động cụ thể trở thành hình thức biểu hiện lao động trừu tượng, lao động tư nhân trở thành hình thức biểu hiện lao động xã hội. Hình thái tương đối và hình thái ngang giá là hai mặt liên quan, không thể tách rời, đồng thời là hai cực của một phương trình giá trị.
Trong hình thái giản đơn, giá trị của một hàng hóa chỉ được phát hiện ở một hàng hóa nhất định khác với nó, chứ không biểu hiện được ở mọi hàng hóa khác và tỷ lệ trao đổi chưa cố định.
* Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng
Hình thái này xuất hiện sau phân công lao động lần thứ nhất, sự trao đổi hàng hóa phát triển cao hơn, có nhiều mặt hàng hơn đòi hỏi giá trị của một hàng hóa phải được biểu hiện ở nhiều hàng hóa với nó. Khi đó, hình thái giá trị giản đơn chuyển sang hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng.
Ví dụ:
10 kg thóc hoặc
1 m vải = 2 con gà hoặc
0,1 chỉ vàng hoặc
…
Đây là sự mở rộng hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên, hình thái ngang giá đã đươc mở rộng ra ở nhiều hàng hóa khác. Tuy nhiên, vẫn là trao đổi trực tiếp, tỷ lệ trao đổi chưa ổn định.
* Hình thái chung của giá trị
Với sự phát triển cao hơn của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, nhu cầu trao đổi trở nên phức tạp hơn, hình thái chung của giá trị xuất hiện.
Ví dụ:
10 kg thóc hoặc
2 con gà hoặc = 1 m vải
0,1 chỉ vàng hoặc
…
Ở đây, tất cả các hàng hóa đều biểu hiện giá trị của mình ở cùng một thứ hàng hóa đóng vai trò là vật ngang giá. Tuy nhiên vật ngang giá chung chưa ổn định ở một thứ hàng hóa nào.
* Hình thái tiền tệ
Tình trạng nhiều vật ngang giá chung làm cho trao đổi giữa các địa phương vấp phải khó khăn, do đó dẫn đến đòi hỏi khách quan phải hình thành vật ngang giá chung thống nhất mà tất cả mọi người đều thừa nhận, đó là vàng. Và lúc đó hình thái tiền tệ ra đời.
Ví dụ:
10 kg thóc hoặc
2 con gà hoặc = 0,1 chỉ vàng
1 m vải hoặc
…
Tiền tệ ra đời làm thế giới hàng hóa phân thành hai cực: một bên là các hàng hóa thông thường, một bên là các hàng hóa đóng vai trò tiền tệ.
Lúc đầu nhiều kim loại đóng vai trò tiền tệ, nhưng về sau được cố định ở kim loại quý: vàng, bạc và cuối cùng là vàng. Sở dĩ vàng đóng vai trò tiền tệ là do những ưu điểm của nó: dễ phân biệt (về màu sắc, độ dẻo, âm thanh khi va chạm); bền vững, dễ chia nhỏ; ổn định về số lượng sẵn có; giá trị nội tại ít bị biến động.
b. Bản chất của tiền tệ
Tiền tệ là hàng hóa đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hóa làm vật ngang giá chung thống nhất cho các hàng hóa khác, nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa.
2. Chức năng của tiền tệ
a. Thước đo giá trị
Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hóa. Muốn đo lường giá trị của các hàng hóa, bản thân tiền tệ cũng phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng.
Giá trị hàng hóa được biểu hiện thành tiền gọi là giá cả hàng hóa. Hay nói cách khác, giá cả hàng hóa là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa.
Giá cả hàng hóa chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau: Giá trị hàng hóa, giá trị của tiền, quan hệ cung – cầu về hàng hóa.
Để làm chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được đo lường, tức phải có đơn vị đo lường tiền tệ. Đơn vị đó là một trọng lượng nhất định của kim loại dùng làm tiền tệ và ở mỗi nước đơn vị tiền tệ này có tên gọi khác nhau.
b. Phương tiện lưu thông
Với chức năng phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hóa. Để làm chức năng lưu thông hàng hóa thì ta phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hóa lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hóa.
Công thức lưu thông hàng hóa là: H – T – H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hóa đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian và không gian. Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng kinh tế.
Lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ là hai mặt của quá trình thống nhất. Lưu thông tiền tệ xuất hiện và dựa trên cơ sở của lưu thông hàng hóa.
Trong lưu thông, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức càng thoi, bạc nén. Sau này, tiền vàng dần được thay thế bằng tiền giấy. Tiền giấy không có giá trị mà chỉ ký hiệu của tiền vàng, là dấu hiệu của giá trị.
c. Phương tiện cất trữ
Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút ra khỏi lưu thông đi vào cất trữ. Tiền làm được chức năng này là vì tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là hình thức cất trữ của cải và để làm chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền, vàng, bạc.
d. Phương tiện thanh toán
Tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả lương, trả tiền mua hàng chịu … Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua chịu. Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả năng trả nợ bằng cách thanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt. Mặt khác, trong việc mua bán chịu người mua trở thành con nợ, người bán trở thành chủ nợ, đến kỳ thanh toán, một khâu nào đó không thanh toán sẽ gây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tăng lên.
e. Tiền tệ thế giới
Khi trao đổi vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm chức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hình thái ban đầu của nó là tiền vàng. Trong chức năng này, vàng dùng làm phương tiên mua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nói chung của xã hội.
Tóm lại, 5 chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hóa quan hệ mật thiết với nhau. Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Bạn đang đọc truyện trên: TruyenTop.Vip