Đề 37: Khổ cuối Đồng chí

Trong tiểu thuyết "Nỗi buồn chiến tranh" Bảo Ninh từng viết: "Chân trời chết chóc mở ra mênh mông, vô tận, những nấm mồ bộ đội mọc lên nhấp nhô tựa sóng cồn". Chiến tranh đi qua để lại biết bao đau thương, biết bao người đã ngã xuống vì bình yên của Tổ quốc. Những năm tháng khổ đau và mất mát kiệt cùng ấy ánh lên trong ký ức mỗi người qua những vần thơ. Lòng ta chợt lắng lại trước hình ảnh người lính "Áo vải chân không đi lùng giặc đánh" trong "Nhớ" của Hồng Nguyên, bồi hồi trước hình ảnh những chiến sĩ Tây Tiến hào hùng, hào hoa trong "Tây Tiến" của Quang Dũng, say mê "Lên Tây Bắc" của Tố Hữu. Cho đến khi đọc "Đồng Chí" của chính Hữu, hình ảnh người lính cách mạng thời kì chống Pháp với tình đồng chí đồng đội gắn bó keo sơn đã thật sự sống dậy trong tâm trí ta. Và cái đọng lại nhiều dư vị nhất chính là bức tranh giàu chất thơ về người lính bộ đội cụ Hồ:

"Đêm nay rừng hoang sương muốiĐứng cạnh bên nhau chờ giặc tớiĐầu súng trăng treo"

Chính Hữu là nhà thơ quân đội trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông làm thơ không nhiều, hầu như chỉ viết về đề tài người lính và chiến tranh. Thơ ông đặc sắc giàu hình ảnh, cảm xúc dồn nén đã để lại dấu ấn khó quên trong lòng bạn đọc. Tố Hữu từng nói: "Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã thật đầy", chính vì những xúc cảm chân thực trong tâm hồn đã tạo ra những rung động mạnh mẽ, mãnh liệt để những vần thơ nở hoa trên trang giấy. "Đồng chí" là kết tinh của những dòng cảm xúc đó. Bài thơ được viết năm 1948, sau khi tác giả cùng đồng đội tham gia chiến dịch Việt Bắc thu đông năm 1947. Thời kì đầu của cuộc kháng chiến vô cùng khó khăn, gian khổ, thiếu thốn, Chính Hữu bị ốm phải nằm điều trị, đơn vị đã cử một người ở lại để chăm sóc. Bài thơ chính là món quà mà nhà thơ của chúng ta gửi tặng đồng đội - người bạn nông dân mặc áo lính. Sau khi nêu lên những cơ sở của tình đồng chí, biểu hiện cao đẹp của tình cảm ấy. Nhà thơ đã khái quát lên một bức tranh tuyệt đẹp về người lính cách mạng Việt Nam ở ba dòng thơ cuối:

"Đêm nay rừng hoang sương muốiĐứng cạnh bên nhau chờ giặc tớiĐầu súng trăng treo"

Ba câu thơ đã khắc họa bức tranh tuyệt đẹp về người lính giữa đại ngàn. "Đêm nay" là một trong rất nhiều đêm hai người lính đi gác chung cùng nhau, trong một hoàn cảnh chiến đấu vô cùng khắc nghiệt. Cụm từ "rừng hoang sương muối" gợi cảnh tượng âm u, vắng vẻ, lạnh lẽo, càng về khuya sương muối lạnh cắt da thịt xuống càng nhiều. Không chỉ cái giá, cái rét cứ theo đuổi mà trong bóng tối bao nguy hiểm đang rình rập người chiến sĩ. Gian khổ là thế, nhưng những người lính vẫn luôn kề vai sát cánh bên nhau trong tư thế phục kích chờ giặc. Từ "chờ" đã nói rõ cái tư thế, tinh thần chủ động tìm giặc mà đánh của người lính. Như vậy, sức mạnh của tình đồng chí đã sửa ấm các anh giữa cảnh rừng hoang sương sa giá rét, đã tiếp thêm sức mạnh để các anh vượt qua khó khăn, nguy hiểm.

Người lính trong cảnh phục kích chờ giặc còn có thêm một người bạn nữa - vầng trăng: "Đầu súng trăng treo". Câu thơ là một phát hiện mới lạ độc đáo của Chính Hữu vừa tả thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng. Người lính đứng gác trong tư thế bầu súng lên vai, trời đã về khuya, ánh trăng chênh chếch cảm tưởng như đang treo đầu ngọn súng. Giữa hoàn cảnh chiến đấu gian khổ, hiểm nguy vậy mà người lính vẫn nhận ra vẻ đẹp thơ mộng của vầng trăng. Điều này chứng tỏ tâm hồn người lính đang thăng hoa, bay bổng. Đó là vẻ đẹp của một tâm hồn thi sĩ, thực tại và mộng mơ, chất chiến đấu và trữ tình đã hài hoà với nhau trong cuộc đời người lính. Hình ảnh "đầu súng trăng treo" còn là biểu tượng cho lí tưởng chiến đấu cao đẹp cho cuộc sống hoàn bình mà các anh ngày đêm giữ gìn. Xa hơn có thể xem đó là biểu tượng của thơ ca kháng chiến - nền thơ kết hợp giữa chất hiện thực và lãng mạn. Người lính cầm súng đứng ở hiện thực gian khổ để bảo vệ vầng trăng, bảo vệ cuộc sống hoà bình, tâm hồn họ cùng hướng tới một ngày mai tươi đẹp. Súng và trăng là "một cặp đồng chí" tô đậm vẻ đẹp của cặp đồng chí đang đứng cạnh bên nhau. Chính tình đồng chí đã làm cho người chiến sĩ cảm thấy cuộc đời vẫn đẹp, vẫn thơ mộng, tạo cho họ sức mạnh tinh thần, động lực, niềm tin chiến đấu để làm nên một Điện Biên Phủ "Lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu"

Có thể nói, hiếm thấy một hình tượng thơ nào vừa hấp dẫn vừa giàu ý nghĩa như "Đầu súng trăng treo". Đây là một sáng tạo thi ca mang vẻ đẹp lãng mạn của thơ ca kháng chiến đã khái quát được vẻ đẹp muôn thuở của người lính Việt Nam: vừa dũng cảm, kiên cường, vừa hào hoa lãng mạn. Vẻ đẹp đó đã gợi cho ta liên tưởng đến những người lính Tây Tiến trong bài thơ "Tây Tiến" của nhà thơ Quang Dũng:

"Mắt trừng gửi mộng qua biên giớiĐêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm"

Hay những anh bộ đội cụ Hồ trong bài thơ "Đất nước" của Nguyễn Đình Thi:

"Những đêm dài hành quân nung nấuBỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu"

Khó khăn, gian khổ không thể làm mờ đi vẻ đẹp hào hoa, lãng mạn của những người lính Việt Nam. Điều đó đã tạo nên vẻ đẹp nhân văn, nhân bản cho hình tượng người chiến sĩ. Để thể hiện trọn vẹn vẻ đẹp của người lính cách mạng phải kể đến tài năng của nhà thơ Chính Hữu trong việc sử dụng những hình ảnh thơ chọn lọc vừa tả thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng kết hợp với bút pháp tả thực, cảm xúc dồn nén. Với những đặc sắc cả về nội dung lẫn nghệ thuật khổ thơ đã góp phần không nhỏ đến thành công của bài thơ.

Đúng như Léonard De Vinci từng khẳng định: "Thơ là một bức hoạ để cảm nhận thay vì để ngắm". Khổ cuối của bài thơ "Đồng chí" đã khắc hoạ thành công bức tranh đầy chất thơ về hình tượng người lính Việt Nam. Thông qua bức tranh đó chúng ta càng thêm tự hào về thế hệ cha anh, nhắc nhở chúng ta sống sao cho xứng đáng với sự hi sinh của thế hệ đi trước.

Bạn đang đọc truyện trên: TruyenTop.Vip