CHƯƠNG 1 - MÙA THU LÀNG ĐÔNG THỊNH

Quê tôi làng Đông Thịnh, chỗ sông Đáy uốn lượn như con trăn xanh ôm lấy bãi bồi. Làng nằm lọt giữa cánh đồng chiêm trũng, bốn mùa nghe tiếng nước vỗ bờ đê, mùa gặt thơm mùi rơm mới, mùa cấy thì lội bì bõm đến tận đầu gối. 

 Mỗi sáng, vừa tang tảng, tiếng gà gáy đã vọng khắp xóm. Loa xã treo ở sân đình oang oang tin tức: "Toàn miền Bắc ta đang ra sức thi đua mừng ngày Quốc khánh... Chi viện cho đồng bào miền Nam ruột thịt....", giọng cán bộ hợp tác đọc vang giữa sương mai. U tôi vừa nhặt mớ rau muống vừa bảo:

 – "Nghe mà cứ rạo rực hết cả ruột, Mùi ạ. Ngày Tết Độc lập là phải rửa cái chum, kê lại bàn thờ cho sáng sủa."

 Bà Hợi hàng xóm nghe thấy, chống nạnh chen vào:

 – "Ừ thì rửa chum rửa vại, nhưng cái sân nhà chị Mùi kìa, gạch rêu mốc xanh lè, không quét đi thì bêu làng." 

U tôi cười hiền:

 – "Cụ lo cho đẹp làng đẹp xóm là tốt rồi. Mai tôi cho con bé nó quét."

 Tôi đang gánh đôi thùng nước từ giếng về, nghe thế chỉ "dạ" một tiếng. Giếng làng rộng, nước trong vắt, múc lên lạnh ngọt. Mỗi sớm, người làng chen chúc gánh nước. Tôi thường gặp anh Bốn ở đó. Anh hơn tôi ba tuổi, cao gầy, da sạm, mắt sâu, nhìn đẹp mã ra phết. Nhà chỉ có hai mẹ con, cha anh ấy mất hồi chống Pháp. Anh ít nói, nhưng khi nói thì giọng trầm, chắc. Sáng nay cũng thế, anh gật đầu chào tôi, rồi hỏi:

 – "Hôm nay cấy đâu thế,em Mùi?"

 – "Ngoài thửa bãi, chỗ sát con mương lớn." – 

"Chỗ nì đỉa lắm, nhớ buộc ống quần kẻo bị nó cắn."

 Tôi khẽ "ừ" rồi cúi xuống rửa lại cái thùng, để khỏi phải nhìn lâu vào mắt anh. Trong làng, ai cũng quý anh Bốn. Mẹ anh, bà Tý, gầy guộc nhưng khỏe, vẫn gánh rạ, tuốt lúa như người trẻ. Có hôm, tôi qua bờ ao, thấy bà nói với u tôi:

 – "Nhà tui chỉ có thằng Bốn là rường cột. Chưa tính chuyện vợ con, lo lắm bà ạ."

 U tôi cười:

 – "chao ôi chả mấy mà bế cháu đấy nhể, nhà tôi đứa lớn chồng con nếp tẻ đủ cả rồi, thằng Bốn ưng đứa bé nhà tôi thì bà vác trầu cau sang thôi." 

Nghe hai bà nói, tôi ngượng ngùng chỉ muốn đào cái lỗ để chui vào. Từ đầu tháng Tám, làng đã rộn ràng chuẩn bị mừng Quốc khánh. Hợp tác xã cho nghỉ sớm để quét sân đình, treo cờ, dán khẩu hiệu. Mấy anh thanh niên thì dựng cột cờ giữa sân, mấy chị phụ nữ kết hoa giấy. Chị Vạn – bí thư chi đoàn – vừa treo băng rôn vừa hô:

 – "Nhanh tay lên các cụ ơi, tối văn công về diễn cho mà xem!" 

Mấy đứa trẻ chạy lăng xăng, hò reo: 

– "Cháu ngồi hàng đầu, cháu...cháu cô ơi!" 

 Buổi tối rằm tháng Tám năm ấy, trăng sáng như đổ mật. Cả làng tụ tập ở sân kho hợp tác, người trải chiếu, người mang ghế, mấy bà già bồng cháu. Anh Bốn đứng ở rìa, cạnh gốc nhãn, tay khoanh trước ngực, mắt nhìn sân khấu nơi các cô văn công mặc áo dài trắng đang hát "Tiếng chày trên sóc Bom Bo". Tôi ngồi với mấy chị bạn, nhưng thỉnh thoảng vẫn liếc về phía anh. Chị Ngát ngồi cạnh hích vai tôi: 

– "Nhìn gì đấy? nhìn chồng tương lai hử." Tôi gắt nhỏ:

 – "Bà nói linh tinh."

 – "Ánh mắt biết yêu đấy Mùi ạ." – Chị cười khúc khích, tôi cúi mặt xuống để chị không nhìn thấy cái mặt đỏ chót như quả cà chua của tôi.

 Đêm ấy, khi văn công hát xong, dân làng còn nán lại nói chuyện. Tôi đi ngang qua anh, anh gọi khẽ: 

– "Mùi này..." 

– "Dạ?"

 – "Ngày mai hợp tác huy động ra đồng sớm, cấy cho kịp vụ. Anh nhớ cái liềm của em nó bị cùn rồi, mai qua nhà anh lấy cái liềm sắc hơn nhé, anh tặng."

 – "Vâng, em cảm ơn ạ." Tôi e thẹn vọt đi thật nhanh vì sợ anh biết tôi ngại.

 Câu chuyện chỉ vậy, nhưng suốt đường về tôi cứ nghe tiếng anh vang trong đầu. Cánh đồng tối om ngoài bờ đê, gió sông thổi mát rượi, hương lúa non quyện với mùi rơm mới, khiến tôi thấy lòng mình bâng khuâng đến lạ. Mùa thu năm ấy, cả làng náo nức như Tết. 

Sáng mồng Hai tháng Chín năm ấy, trời cao và trong đến lạ. Gió từ sông Đáy ùa vào mát rượi, mang theo mùi ngai ngái của lúa đang thì con gái. Tôi thức dậy sớm hơn mọi ngày, không hẳn vì háo hức, mà vì tiếng gọi nhau rộn rã từ đầu xóm đã đánh thức cả giấc mơ.

Tiếng guốc mộc lộc cộc trên đường đất xen tiếng chó sủa, tiếng gà gáy lan khắp ngõ nhỏ. Từ ngoài sân đình, đã nghe tiếng loa pin ông Thản, cán bộ văn hóa xã, oang oang:

– "Bà con tập trung đông đủ nhé! Nam một bên, nữ một bên, cho hàng ngũ ngay ngắn!"

U tôi đặt cái rổ rau muống xuống, nói vọng ra chỗ tôi đang rửa mặt ở cầu ao:

– "Mày thay cái áo nâu lành lặn mà đi cho chỉnh tề. Đứng vào hàng phụ nữ cho gọn gàng. Cái Bốn nó cũng ở hàng dân quân đấy."

Tôi chỉ "vâng" một tiếng, giả vờ cúi xuống rửa lại mặt, che đi nụ cười thoáng hiện.

Ra tới sân đình, tôi thấy cột cờ đã dựng từ hôm qua, lá cờ đỏ sao vàng phấp phới trên cao. Xung quanh, từng nhóm người tụ lại. Đám thanh niên trai làng áo sơ mi trắng, quần xanh, mũ cối đội thẳng; mấy cô gái tóc vấn gọn, quần đen áo trắng, cổ quàng khăn điều. Trẻ con thì cờ giấy cầm tay, chạy khắp nơi, miệng líu lo hát.

Bà Hợi đứng chặn giữa lối, chống nạnh quát thằng Tí:

– "Đừng có chạy vào chỗ người ta tập, té chết bây giờ!"

Chị Vạn – bí thư đoàn – vừa cầm tập giấy vừa gọi to:

– "Mấy chị ở tổ 3 nhanh tay lên! Sắp xếp hàng xong còn tập hát!"

– "Ối giời, văn công huyện à?" – chị Hảo hỏi với, tay chỉnh lại tà áo – "Thế thì phải đứng ngay ngắn cho đẹp mắt."

Tiếng trống đội thiếu niên vọng lại từ đầu làng, rộn rã như thôi thúc bước chân. Mấy chục đứa nhỏ mặc áo trắng, khăn đỏ quàng ngay ngắn, đi đều bước. Cái Hạnh, con bé lớp Ba, cầm lá cờ to nhất, mặt đỏ hồng vì nắng nhưng vẫn hát to:

"Đoàn quân Việt Nam đi... chung lòng cứu quốc..."

Dọc đường vào sân đình, mấy mẹt quà quê đã bày ra. Chõ xôi lạc nóng hổi, mẹt bánh đa vừng vàng ruộm, vài quả ổi xanh còn nguyên mùi lá. Trẻ con xúm quanh, miệng ríu rít xin:

– "Bác cho con một miếng!"

– "Này, một miếng thôi, ăn nhiều đau bụng." – bà bán xôi vừa nói vừa dúi cho đứa nhỏ nắm xôi lạc nóng hổi.

Người già ngồi hàng ghế tre sát vách đình, phe phẩy quạt nan. Ông Lý Thận – trưởng thôn – ghé qua bắt tay từng cụ, giọng hồ hởi:

– "Năm nay bà con phấn khởi lắm, tổ chức cho to để mừng ngày Độc lập!"

Một cụ già cười móm mém:

– "Có ngày này là nhờ ơn Bác, ơn bộ đội. Phải giữ cho con cháu nó nhớ."

Tôi đứng trong hàng phụ nữ, nhìn sang bên kia thấy anh Bốn trong bộ áo dân quân xanh sẫm, súng vác vai, mắt hướng thẳng lên cột cờ. Dáng anh ngay ngắn, kiên nghị. Một cơn gió nhẹ thổi qua, lá cờ rung lên, ánh nắng rọi vào vai áo anh, khiến tôi bỗng thấy tim mình đập nhanh hơn.

Ông Lý Thận bước lên bục, giọng sang sảng:

– "Hôm nay, ngày mồng Hai tháng Chín năm ..., toàn dân ta kỷ niệm ngày Độc lập. Chúng ta nhớ công ơn Bác Hồ, công ơn các liệt sĩ, quyết tâm làm việc, sản xuất, bảo vệ Tổ quốc..."

Tiếng vỗ tay vang rào rào. Trẻ con ngồi xếp bằng dưới đất cũng vỗ theo, mặt rạng rỡ như vừa được phát kẹo.

Rồi đến văn nghệ. Mấy cô văn công huyện mặc áo dài trắng, tóc vấn cao, giọng hát vang và trong như nước giếng làng. Bài nhạc vừa dứt, tiếng vỗ tay đã như sấm. Ai đó trong đám đông hô:

– "Hát nữa đi!"

Tiếng hô lan ra, thành một tràng cười vui rộn rã.

Bạn đang đọc truyện trên: TruyenTop.Vip