[Copy By Mars] TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU
Chiếc thuyền ngoài xa
Trưởng phòng tôi là người sâu sắc, lại cũng lắm sáng kiến đến cái mức có khi bọn chúng tôi trong cơ quan phát mệt vì anh.
Trước đây chừng dăm tháng, để chuẩn bị cho tấm lịch năm sau, anh tỏ ý không bằng lòng với cách làm ăn từ trước tới giờ - Sang năm chúng ta sẽ đem đến cho mỗi gia đình một bộ sưu tập chuyên đề về thuyền và biển - anh nói quả quyết - Thôi, bỏ cái lối mỗi thứ một tí đi. Phải có một bộ sưu tập chuyên đề. 12 tháng là 12 bức ảnh nghệ thuật về thuyền và biển. Không có người. Hoàn toàn thế giới tĩnh vật.
Chúng tôi xách máy lên đường, suy nghĩ, chọn cảnh, bấm máy suốt năm tháng. Và tất cả những gì thu được bằng ánh sáng đen trắng trên giấy ảnh đang được bày ra la liệt trên hai chiếc bàn ghép lại, và quả tình lúc đó tôi đã lấy làm bằng lòng lắm, đoán chắc không còn phải xách máy đi chụp bổ sung như mọi năm nữa.
Làn khói thuốc lá cuộn phun ra mù mịt trước cặp mắt đầy tinh khôn của trưởng phòng đang nheo lại sau mắt kính lão. Đột nhiên trưởng phòng quay sang phía tôi hỏi:
- Bây giờ đã là tháng mấy nhỉ?
- Tháng bảy. - Tôi đáp với một vẻ dè chừng.
- Tháng này ở biển vẫn còn sương chứ?
- Chỉ có bão táp với biển động. Muốn lấy sương thì phải nghĩ đến từ tháng ba cơ.
- Này anh Phùng - trưởng phòng dường như đã nhìn thấy rõ mọi ý nghĩ ngần ngại của tôi, cho nên anh vừa nói vừa nhăn nhó cái mặt lộ vẻ đau khổ - tôi cho anh một tháng, một tháng là đủ chứ gì?... Anh giúp tôi thêm một cảnh buổi sáng có sương đi.
- Trời ơi - tôi nhặt một bức ảnh ngay trong tầm tay - với hàng trăm bức ảnh đẹp, chụp công phu thế này mà anh... - Đẹp thì đẹp thực - anh cướp lời tôi - Và nhất là lại có hồn nữa. Đúng là những bức ảnh nghệ thuật. Nói thực tình năm nay các anh đi về, khác với những năm khác, tấm nào ít nhiều tôi cũng thích. Nhưng không thể chọn đủ cho mười hai tháng, vẫn đang còn thiếu một tờ.
ở đời cái gì cũng thế, con người bản tính vốn lười biếng, đôi khi mình hãy cứ để cho mình rơi vào hoàn cảnh bị ép buộc phải làm, không khéo lại làm được một cái gì.
Năm ngày sau tôi đã có mặt ở một vùng biển cách Hà Nội ngoài sáu trăm cây số. Tôi vác máy tới một dải bờ cát nằm "phục kích" thiên nhiên ở cái khoảng giao điểm ngày vừa rạng, đêm chưa tắt hẳn, bấy giờ cũng là lúc những chiếc thuyền đánh cá bằng vó bè hiện ra trong khoảng mờ tỏ của bình minh.
Thực ra đi chuyến này tôi có ý muốn trở về thăm một vùng chiến trường cũ ở đấy tôi có một thằng bạn vừa là đồng hương, vừa là đồng đội đã từng mười năm ở với nhau trên rừng A So, trước đây là một trung đội phó bộ binh nổi tiếng hay đùa tếu và bây giờ, lạy trời, ở ngay cái vùng biển ấy hắn ta đang làm một thứ công tác... nghiêm túc đến mức chẳng ai có thể tưởng tượng, chính hắn lại có thể làm nổi, mà trong thực tế hắn ta đã làm hai ba năm nay chứ không ít. Đời chúng tôi, cái đám lính của một thời chống Mỹ, từ sau bảy nhăm thật chẳng ít chuyện trớ trêu và bất ngờ.
Thật ra ở đấy chưa phải là biển mà mới chỉ là một vùng phá ăn sâu vào đất liền, chạy quanh quất như chơi trò trốn tìm giữa các thôn, ổ, chợ búa trong một phạm vi hàng mấy chục cây số. Chẳng phải nói, cái vùng nước mà tôi vừa mới vác máy ảnh đến để chụp bổ sung cho bộ sưu tập thật là thơ mộng, và nhất là dường như trong suốt dải bờ biển của khắp cả nước, chỉ ở đây vào giữa tháng bảy là còn sương mù. Nơi đây, nếu bỏ ra ngoài tầm mắt những bãi xe tăng vứt lại hồi "tháng ba bẩy nhăm" (bây giờ sau gần mười năm, đã bị hơi nước mặn gặm mòn và làm cho sét gỉ), vùng phá nước có một cái gì đấy thật là phẳng lặng và tươi mát như da thịt của mùa thu đang ấp vào tâm hồn anh. Tôi trở nên ngây ngất vào mỗi buổi sáng, bầu trời không xanh biếc, cao thăm thẳm mà đượm một sắc giữa xanh và xám, bầu trời như hạ thấp xuống và như ngưng đọng lại; giữa trời và nước ấy chỉ có một chiếc thuyền của một gia đình làm nghề vó bè đang tỏa khói bếp giữa phá - chiếc thuyền đứng im như làm bằng các-tông dán vào cảnh vật êm ả.
Hai ngày đầu, suýt nữa tôi đã quyết định đưa vào tờ lịch tháng bảy khung cảnh người ta đẩy một chiếc thuyền xuống nước. Đó là một chiếc thuyền mới đóng xong vẫn còn thơm mùi gỗ lẫn mùi dầu rái. Tôi đã chọn được một thằng bé khoảng lên năm có đầy đủ ngoại hình con trai một nhà hàng chài, lại có cặp mắt thật đen gợi cho tôi nghĩ đến con mắt người ta vẽ trên đầu mũi thuyền, thằng bé đánh trần, lội ra đứng giữa những lượn sóng bạc đầu giang tay vứt một nắm phoi bào ra thật xa. Trong khi đó, ở trên bờ, bố mẹ nó và những người lớn đứng xếp hàng dọc ghé vai vào hai bên mạn chiếc thuyền mới. Tôi chỉ cần chụp đặc tả những chiếc vai trần của ngư phủ cùng với một hàng bàn chân to bè của họ dậm lún vào cát.
Nhưng tôi vội thôi ngay cảnh đẩy thuyền đầy không khí vui nhộn hơi thô lỗ và thật hùng tráng. Thất bại thấy trước là tôi đã không làm sao thu được vào ống kính khoảnh khắc chiếc thuyền đập mình xuống nước làm vỡ tung toé từng đám bọt sóng trắng xoá.
Tôi cũng quyết định thôi không lấy cảnh sương và cát như trưởng phòng ở nhà đã gợi ý, mặc dầu có những đêm thật lý thú, tôi ra ngủ ngay giữa bãi cát ven bờ phá, theo lời rủ rê của một thằng bé mặt mũi xấu xí nhưng có một trí nhớ khác thường, quần áo dính đầy nhựa cây, nó là đứa cháu ngoại của một ông lão làm nghề sơn tràng ở tận trên miền rừng A So, hai ông cháu lái một chiếc xe Reo của gia đình chở gỗ về bán cho xưởng đóng thuyền. Trong những đêm như thế, thằng nhóc tận trên rừng xuống và tôi như hai nhà hiền triết nằm kê đầu trên mười ngón tay đan vào nhau, nằm ngửa sóng đôi bên nhau, mắt nhìn đăm đăm vào khoảng mờ trắng của sương đêm, cùng hồi hộp chờ một tiếng vạc rất nhỏ kêu thảng thốt trong bầu sương tít trên cao, nghe như vọng về từ một thời hồng hoang nào đó, cái thời chung quanh vùng biển này chỉ có lau lách và tiếng sóng vỗ, chưa có người.
Thế rồi cuối cùng, tìm đi kiếm lại, vác máy ảnh tha thẩn suốt một tuần lễ, tôi quyết định thu vào tờ lịch tháng bảy của năm sau cảnh thuyền đánh cá thu lưới vào lúc nhập nhoạng sáng. Ai đã cầm máy ảnh có kinh nghiệm đều biết đó là một cảnh chết cháy - một đề tài đã có quá nhiều người khai thác, đã từng để lại những bức ảnh thật đẹp, đầy chất thơ của những người cầm máy ảnh có tên tuổi.
Cái gì đã xui khiến tôi tự thách thức bằng cái việc mạo hiểm ấy? Có lẽ trước hết, không phải do sự hấp dẫn của hình ảnh mà chính là những tiếng động đầy vẻ náo nhiệt ở cách xa hàng cây số cũng nghe tiếng của một nhóm thuyền đánh cá đêm bằng vó bè. Tôi chỉ được nghe cái âm thanh của sự làm ăn có cái gì như ma quái ấy vào những đêm thật tối trời và chỉ được nghe thấy vào quãng gần sáng, vào lúc mà thằng Phác - thằng bé từ trên rừng "hạ sơn" xuống đã nép vào sườn tôi ngủ say như chết sau khi nó cặn kẽ giải thích cho tôi nghe cuộc sống của những giống chim trên rừng, trước mùa thu, trước mùa giá rét rất lâu, chúng đã nháo nhác rời tổ xây trên các lùm cây dẻ um tùm để làm những cuộc di cư.
Không phải ngay trong mấy ngày đầu mới đến mà về sau, khi đã chụp trọn gần một cuốn phim, tôi mới có dịp hiểu đôi chút về cách làm ăn lâu đời của những "tổ hợp tác" gồm những chiếc thuyền đánh cá không có bến này. Bao giờ họ cũng chỉ liên kết với nhau chỉ trong một đêm hoặc một ngày chứ không lâu. Thường thường mỗi thuyền là một gia đình, ngoài thuyền lớn còn vài chiếc mủng để đi lại. Cuộc sống cứ lênh đênh khắp cả một vùng phá mênh mông. Cưới xin, sinh con đẻ cái, hoặc lúc nhắm mắt cũng chỉ trên một chiếc thuyền. Xóm giềng không có. Quê hương bản quán cả chục cây số trời nước chứ không cố kết vào một khoảnh đất nào.
Vào một buổi sáng tôi thức dậy. Đàng đông đã sáng trắng. Trên một nửa vòm trời sao đã lặn hết. Những đám mây hình vỏ sò cứ hồng lên dần, trong khi đó, mặt biển tuy đã sáng rõ, đến cái mức đứng trong bờ cũng nhìn thấy từng đường gấp nếp lăn tăn trên mặt tấm thép dát màu xám đục, nhưng sao mà tẻ nhạt, tiếng sóng ồ ồ dội vào giấc ngủ suốt đêm chạy trốn đi đâu hết, biển im thít và không màu sắc, như một con sứa khổng lồ giạt vào bãi.
Ngay chỗ bãi xe tăng nhìn ra, một nhóm chừng dăm chiếc thuyền vó vừa tắt đèn. Những chiếc măng sông treo thõng giữa lòng các tấm lưới đã tắt hết nhưng những đợt tiếng la thét vẫn cứ vang lên. Đó là đám người đã được phân công làm công việc xua cá vào lưới. Phần nhiều đàn bà, trẻ con, họ ngồi trên những chiếc mủng lúc nào cũng thả trôi lượn lờ mé ngoài. Có khi tản mát mỗi nơi một chiếc. Số mủng bất chợt được tập hợp lại, từ bốn góc hối hả chèo tới. Đến cự ly cách mũi thuyền chừng trăm mét, tất cả buông chèo vớ lấy hai gióng tre khô vứt trong lòng mủng gõ ầm ầm, có người dùng ngay bơi chèo gõ vào thành mủng, tay gõ miệng hét:
- Hới, hới...
Trong mấy cái phút ấy, tôi quỳ một chân trên nền cát ướt, máy đã đặt sát vào mắt như một người đi săn chỉ rình ít phút nữa con thú sẽ tuông ra khỏi cánh rừng, tôi chờ cái lúc năm sáu chiếc lưới vó cùng một lúc từ từ dâng lên.
Tôi bấm máy lia lịa. Qua khuôn hình ánh sáng, tôi đã hình dung thấy trước những tấm ảnh nghệ thuật của tôi sẽ là vài ba chiếc mũi thuyền và một cảnh đan chéo của những tấm lưới đọng đầy những giọt nước, mỗi mắt lưới sẽ là một nốt nhạc trong bản hòa tấu ánh sáng và bóng tối, tượng trưng cho khung cảnh bình minh là một khoảng sáng rực rỡ đến mức chói mắt, trong khoảng sáng đó sẽ hiện lên trong tầm nhìn thật xa những đường nét của thân hình một người đàn bà đang cúi lom khom, sải cánh tay thật dài về phía trước kéo tấm lưới lên khỏi mặt nước, và phía sau lưng người đàn bà, hình một ngư phủ và một đứa trẻ đứng thẳng trên đầu mũi thuyền, dùng lực toàn thân làm đòn bẩy nâng bổng hai chiếc gọng lưới chĩa thẳng lên trời.
Nói chung tôi đã tìm được một bố cục chặt chẽ, và tôi lại có tính duy tâm nghề nghiệp, tôi lại còn tin vào cái ngẫu nhiên đầy "số đỏ" của tôi nữa. Tôi nghĩ rằng với những tay nhiếp ảnh nghệ thuật, nếu không có thêm sự sắp đặt đầy tài tình của ngẫu nhiên thì với tài ba đến bao nhiêu, anh cũng chỉ... thu được những tấm ảnh vô hồn.
Cũng như lúc tụ lại, cái đội hình của sự làm ăn trôi nổi trên mặt nước tản ra rất nhanh. Đây là mẻ lưới cuối cùng. Trong nháy mắt, trước mặt tôi chỉ còn một khoảng phá nước trống không.
Lúc bấy giờ trời đầy mù từ ngoài biển bay vào. Lại lác đác mấy hạt mưa. Tôi rúc vào bên bánh xích của một chiếc xe tăng để tránh mưa, đang lúi húi thay phim lúc ngẩng lên thấy một chuyện hơi lạ: một chiếc thuyền lưới vó mà tôi đoán là trong nhóm đánh cá ban nãy đang chèo thẳng vào trước mặt tôi.
Có lẽ suốt một đời cầm máy ảnh chưa bao giờ tôi được thấy một cảnh "đắt" trời cho như vậy: trước mặt tôi là một bức tranh mực tầu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào? Chẳng biết ai đó lần đầu đã phát hiện ra bản thân cái đẹp chính là đạo đức? Trong giây phút bối rối, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong gần tâm hồn.
Chẳng phải lựa chọn xê dịch gì nữa, tôi gác máy lên bánh xích của chiếc xe tăng hỏng bấm "liên thanh" một hồi hết một phần tư cuốn phim, thu vào chiếc Pratica cái khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn mình, do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại.
Tôi chắc mẩm ngay trong ngày hôm nay hoặc sáng mai đã có thể nhẩy lên tàu hỏa trở về, nếu cái anh bạn đồng ngũ không cố níu giữ ở lại chơi thêm vài bữa.
Ngay lúc ấy, chiếc thuyền đâm thẳng vào trước chỗ tôi đứng. Một người đàn ông và một người đàn bà rời chiếc thuyền. Họ phải lội qua một quãng bờ phá nước ngập đến quá đầu gối. Bất giác tôi nghe người đàn ông nói chõ lên thuyền như quát: "Cứ ngồi nguyên đấy. Động đậy tao giết cả mày đi bây giờ".
Chắc chắn họ không trông thấy tôi. Người đàn bà trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ. Người đàn ông đi sau. Tấm lưng rộng và cong như lưng một chiếc thuyền. Mái tóc tổ quạ. Lão đi chân chữ bát, bước từng bước chắc chắn, hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ lúc nào cũng nhìn dán vào tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng của người đàn bà.
Từ chỗ chiếc xe tăng mà tôi đang đứng với chiếc máy ảnh, đi quá mươi bước sâu vào phía trong có một chiếc xe rà phá mìn của công binh Mỹ, chiếc xe sơn màu vàng tươi và to lớn gấp đôi một chiếc xe tăng. Hai người đi qua trước mặt tôi. Họ đi đến bên chiếc xe rà phá mìn. Người đàn bà đứng lại, ngước mắt nhìn ra ngoài mặt phá nước chỗ chiếc thuyền đậu một thoáng, rồi đưa một cánh tay lên có lẽ định gãi hay sửa lại mái tóc nhưng rồi lại buông thõng xuống, đưa cặp mắt nhìn xuống chân.
Lão đàn ông lập tức trở lên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: "Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!".
Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách trốn chạy.
Tất cả mọi việc xẩy đến khiến tôi kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn. Thế rồi chẳng biết từ bao giờ, tôi đã vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào tới.
Bóng một đứa con nít lao qua trước mặt tôi. Tôi vừa kịp nhận ra thằng Phác - thằng bé trên rừng xuống vừa nằm ngủ với tôi từ lúc nửa đêm. Thằng bé cứ chạy một mạch, sự giận dữ căng thẳng làm nó khi chạy qua không nhìn thấy tôi. Như một viên đạn trên đường lao tới đích đã nhắm, mặc cho tôi gọi nó vẫn không hề ngoảnh lại, nó chạy tiếp một quãng ngắn giữa những chiếc xe tăng rồi lập tức nhảy xổ vào cái lão đàn ông.
Cũng y hệt người đàn bà, thằng bé của tôi cũng như một người câm, và đến lúc này tôi biết là nó khỏe đến thế!
Khi tôi chạy đến nơi thì chiếc thắt lưng da đã nằm trong tay thằng bé, không biết làm thế nào nó đã giằng được chiếc thắt lưng, liền dướn thẳng người vung chiếc khóa sắt quật vào giữa khuôn ngực trần vạm vỡ cháy nắng có những đám lông đen như hắc ín, loăn xoăn từ rốn mọc ngược lên. Lão đàn ông định giằng lại chiếc thắt lưng nhưng chẳng được nữa, liền giang thẳng cánh cho thằng bé hai cái tát khiến thằng nhỏ lảo đảo ngã dúi xuống cát. Rồi lão lẳng lặng bỏ đi về phía bờ nước để trở về thuyền. Không hề quay mặt nhìn lại, chỉ có tảng lưng khum khum và vạm vỡ càng có vẻ cúi thấp hơn, nom lão như một con gấu đang đi tìm nguồn nước uống, hai bàn chân chữ bát để lại những vết chân to và sâu trên bãi cát hoang vắng.
Người đàn bà dường như lúc này mới cảm thấy đau đớn - vừa đau đớn vừa vô cùng xấu hổ, nhục nhã.
- Phác, con ơi!
Miệng mếu máo gọi, người đàn bà ngồi xệp xuống trước mặt thằng bé, ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy. Thằng nhỏ cho đến lúc này vẫn chẳng hề hé răng, như một viên đạn bắn vào người đàn ông và bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà, làm rỏ xuống những giòng nước mắt, nó lặng lẽ đưa mấy ngón tay khẽ sờ lên khuôn mặt người mẹ như muốn lau đi những giọt nước mắt chứa đầy trong những nốt rỗ chằng chịt.
Thế rồi bất ngờ người đàn bà buông đứa trẻ ra, đi thật nhanh ra khỏi bãi cát xe tăng hỏng, đuổi theo lão đàn ông. Cả hai người lại trở về chiếc thuyền.
Khoảnh khắc sau, bãi cát lại trở về với vẻ mênh mông và hoang sơ. Giữa tiếng sóng ngoài khơi dội những tiếng kêu ồ ồ vào cõi im lặng, chỉ có tôi và thằng bé đứng trơ giữa bãi xe tăng hỏng, trên tay thằng nhỏ vẫn cầm chiếc thắt lưng, hai chúng tôi đưa mắt ngơ ngác nhìn ra một quãng bờ phá vừa ban nãy chiếc thuyền đậu.
Như trong câu chuyện cổ đầy quái đản, chiếc thuyền lưới vó đã biến mất.
Tôi bước về phía nó. Nhưng thằng bé không cho tôi lại gần. Tự nhiên thằng nhỏ vô cớ đâm ra thù ghét cả tôi - hết sức thù ghét, nhìn vào hai con mắt của nó, tôi đọc thấy được điều đó.
Mà tại sao từ trước tới giờ tôi không để ý nhỉ, lần đầu tiên tôi sực nhận thấy nó chính là một thằng bé vùng biển. Những món tóc vàng hoe có chỗ đỏ quạch như mớ lưới tơ đã bợt bạt đang tỏa ra mùi nước mặn che lấp gần hết khuôn trán nhỏ và cặp mắt đầy vẻ ngây thơ, lúc này chả khác nào cặp mắt của một chú hổ con từ miền rừng vừa lạc về.
Mấy ngày sau thằng Phác đối xử với tôi như một kẻ hoàn toàn xa lạ, như chưa bao giờ trò chuyện, ngủ chung với tôi. Mỗi lúc bắt gặp tôi khoác chiếc máy ảnh đi trên bãi cát, nó vẫn nhìn tôi bằng con mắt âm thầm giấu kín đầy một sự thù ghét - và tôi hiểu rằng tất cả lỗi lầm của tôi chính là ở chỗ tôi đã trót có dịp biết được tất cả mọi việc trong nhà nó, cái thằng trẻ con lạ kỳ nhất trần đời.
Tôi đang tìm cách dỗ dành để gần nó, lại bắt đầu làm quen trở lại với nó một lần nữa, cái chú chó sói con ấy, thì đến là quá quắt, thằng bé thông minh và dễ thương đã hoàn toàn biến thành một đứa trẻ độc ác và mất dậy, nó hét lên trước mặt tôi bằng giọng the thé đầy giận dữ: "Hãy cút đi! Cút đi!". Chính lúc ấy là lúc chiếc thuyền vó bè lại hiện ra trong làn sương sớm của một buổi mai, sau lần trước ba hôm.
Tất cả diễn ra y như lần trước. Chiếc thuyền đâm vào đúng quãng bờ phá ngày hôm trước - từ đó đi bộ vào bãi xe tăng hỏng rất gần.
Và vẫn như lần trước, người đàn bà lội xuống trước với cái khuôn mặt cúi gằm xuống, và những bước chân thoăn thoắt đi lên bãi cát. Nhưng khi lão đàn ông vừa rời thuyền để đuổi theo người đàn bà thì trong lúc ấy, ngay sau lưng lão, một đứa con gái cũng tượt xuống ở đằng lái, bơi vào.
Đứa con gái trạc 14, 15 tuổi. Đấy là trông vóc người và mái tóc xõa ngang vai - chứ cũng có thể con gái vùng biển ở cái vóc dạng ấy, chỉ mới 12, 13. Nó mềm mại và nhanh như một con vượn đen tuyền trong bộ quần áo đen ướt rượt bó sát vào mình. Trên đôi cẳng rám nắng, con bé chạy như bay về phía chỗ thằng Phác đứng.
Ngay từ đầu thằng bé hình như muốn tránh giáp mặt đứa con gái nhưng không thoát, thực sự là đứa con gái lớn hơn và có vẻ rất khỏe.
Hai đứa trẻ vật nhau. Có một lúc thằng Phác vùng ra được khỏi đứa con gái, định bỏ chạy, nhưng chỉ sau vài sải chân rượt sát ngay sau lưng, đứa con gái đã nhanh nhẹ giơ tay túm được vạt áo thằng Phác, lôi giật lại.
Đứa con gái - mà tôi đoán là con chị - đã đè ngửa thằng bé ra giữa bãi cát và đến bây giờ thì tôi mới hiểu, đứa con gái đã rút ra được từ trong cạp quần đùi của thằng bé một vật sáng loáng. Trời ơi, đó là một con dao găm.
Đẩu, anh bạn chiến đấu cũ lái Hon-đa đến đón tôi ở một trạm xá xã. Những người thợ xưởng đóng thuyền đã dìu tôi từ bãi tăng về đấy chưa đầy một ngày.
Lão chồng - cái lão đàn ông độc ác và tàn nhẫn nhất thế gian ấy đánh tôi hoàn toàn vì mục đích tự vệ. Tôi nện hắn cũng đã khiếp. Tôi nện hắn bằng tay không, nhưng cú nào ra cú ấy, không phải bằng bàn tay một anh thợ chụp ảnh mà bằng bàn tay rắn sắt của một người lính giải phóng đã từng mười năm cầm súng. Tôi đã chiến đấu trong mấy ngày cuối cùng chiến tranh trên mảnh đất này. Bất luận trong hoàn cảnh nào tôi cũng không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ và tự nguyện rúc vào trong xó bãi xe tăng kín đáo cho hắn đánh.
Đẩu đưa tôi về cơ quan của anh. Cô y tá của cơ quan tòa án huyện, một cô gái chưa chồng, đã luống tuổi và béo phục phịch nhận lệnh của thủ trưởng Đẩu mang túi thuốc tới.
Dưới mắt cô y tá, mấy vết thương xoàng trên trán tôi chả khác nào những vầng hào quang của một người anh hùng. Vừa băng lại các vết thương cho tôi cô vừa kể lể bằng tất cả giọng phẫn nộ thói tàn nhẫn của dân đàn ông đánh cá trong vùng địa phương này - do phong tục để lại.
- Hãm bớt ngọn lửa căm thù xuống bà chị ạ, dù sao thì đàn ông cũng cần, đôi khi rất cần - dù là chánh án của tòa án huyện, Đẩu vẫn không chịu bỏ cái thói hay bông phèng.
- Thà tôi chết già, các anh đừng tưởng, thà tôi làm gái già suốt đời! - Cô y tá luống tuổi cứ chĩa mũi kéo đang kẹp một dúm bông đã tẩm cồn vào giữa mặt Đẩu. Anh chỉ nhe răng cười. Vừa tha được tôi về đến nơi là Đẩu đã chúi mũi vào giữa hàng núi hồ sơ. Những vụ kiện tụng. Những vụ án hình sự lặt vặt cũng có, những vụ nghiêm trọng cũng có.
Vài ngày sau, những vết thương của tôi đã lên da non. Ngồi soát lại tất cả những cuốn phim đã chụp, dù sao thì tôi cũng đã thấy yên tâm về công việc. Tôi tin là nếu chiếc Pratica trung thành với tôi thì phen này tôi có thể đánh ngã bất kỳ một bức ảnh mô tả phong cảnh biển nên thơ nào từ trước.
Tôi ngỏ ý với Đẩu muốn trở lại cái xưởng đóng thuyền nằm ngủ giữa trời với thằng bé một tối, trước khi trở về Hà Nội. Nhưng Đẩu bảo tôi nán lại với anh thêm vài ngày.
Vào một buổi sáng có một chiếc mảng chở hai người đàn bà ghé vào bến tòa án.
Tôi thầm cảm ơn Đẩu đã giữ mình ở nán lại. Nếu thiếu nữ không đi theo mẹ đến tòa án - người đàn bà mặt rỗ hai lần tôi giáp mặt trong bãi xe tăng hỏng - thì chắc chắn tôi không thể nhận ra đó chính là đứa con gái ướt sũng từ đầu đến chân, đã vật nhau với thằng Phác để tước lấy con dao găm.
Thiếu nữ mảnh dẻ trong tấm áo cánh mầu tím nhạt. Lại một cặp mắt như cặp mắt của đứa trẻ lên năm mà tôi đã chọn để cầm vứt một nắm phoi bào ra giữa ngọn sóng bạc đầu - một cặp mắt đen của chiếc thuyền mới đóng. Tuy chẳng hiểu chút gì về nghệ thuật điện ảnh, nhưng bất giác tôi cứ nghĩ giá sau này cần một vai như kiểu nàng tiên cá thì nhất thiết phải chọn người thiếu nữ này. Tôi tự hỏi chẳng lẽ cái nhan sắc đang độ trẻ con như đúc từ trời biển trong suốt, nên thơ này lại được tách ra từ da thịt của một người đàn bà hàng chài xấu xí và đau khổ?
Người đàn bà dặn con gái hãy ở lại dưới thuyền rồi với dáng đi mệt mỏi, chậm chạp như một bà già, trèo lên những bậc đá xếp từ bờ phá lên một con đường nhựa đã long lở, hai bên đường phơi đầy lưới chài, của phố huyện vùng biển.
Người đàn bà vẫn mặc chiếc áo mầu bạc phếch vì nước mặn, một miếng vá bằng vải xanh bằng bàn tay trên vai, những nốt rỗ trên mặt có vẻ thưa ra, đứng trong phòng làm việc của Đẩu, tôi nhận ra ngay mụ. Hôm nay người đàn bà rời chiếc thuyền vó bè "đổ bộ" lên tận đây theo giấy triệu tập của tòa án huyện.
Đây là lần thứ hai, người đàn bà được Đẩu mời đến về công việc gia đình.
Cũng không phải là lần đầu đến một nơi công sở nhưng người đàn bà vẫn có vẻ sợ sệt, lúng túng - cái vẻ lúng túng, sợ sệt mà ngay lúc mụ đứng giữa bãi xe tăng cũng không hề thấy có.
Người đàn bà chỉ quen sống giữa mặt nước vừa đặt chân vào trong phòng đầy bàn ghế và giấy má liền tìm đến một góc tường để ngồi.
Ngồi sau một chiếc bàn lớn, Đẩu nhổm dậy chỉ chiếc ghế mây trước mặt, cố làm ra vẻ thân mật;
- Chị ngồi lên đây, sao lại thế, hãy ngồi lên chiếc ghế này...
Đẩu phải nói đến lượt thứ hai, mụ mới dám rón rén đến ngồi ghé vào mép chiếc ghế và cố thu người lại.
Đẩu hỏi:
- Thế nào, chị đã nghĩ kỹ chưa?
Người đàn bà ngước lên nhìn Đẩu, rồi lại cúi mặt xuống.
- Thưa đã...
Đẩu gật đầu. Anh đứng dậy. Tự nhiên anh rời chiếc bàn đến đứng vịn vào lưng ghế người đàn bà ngồi giọng trở nên đầy giận dữ, khác hẳn với giọng một vị chánh án:
- Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cả nước không có một người chồng nào như hắn. Tôi chưa hỏi tội của hắn mà tôi chỉ muốn bảo ngay với chị: chị không sống nổi với cái lão đàn ông vũ phu ấy đâu. Chị nghĩ thế nào?
Người đàn bà hướng về phía Đẩu, tự nhiên chắp tay vái lia lịa:
- Con lạy quí tòa...
- Sao, sao?
- Quí tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó...
Lúc bấy giờ tôi đang ngồi giấu mặt sau bức màn vải hoa ngăn chỗ làm việc bên ngoài và phòng ngủ bên trong của Đẩu. Sau câu nói của người đàn bà, tôi cảm thấy gian phòng ngủ lồng lộng gió biển của Đẩu tự nhiên bị hút hết không khí, trở nên ngột ngạt quá. Tôi vén lá màn bước ra.
Người đàn bà nhận ra được tôi ngay. Mụ nhấp nhổm xoay quanh chiếc ghế như bị kiến đốt, và về sau tôi mới sực nghĩ ra, mụ nghĩ rằng tòa án đã bố trí sẵn tôi ngồi phía sau để chuẩn bị làm nhân chứng.
- Chị cứ ngồi nguyên đấy! - Đẩu nói và với vẻ đầy hào hứng của một con người bảo vệ công lý vừa có thêm người đến tiếp viện, anh chạy sang phòng bên xách một chiếc ghế cho tôi. Bấy giờ dưới con mắt của người đàn bà hàng chài, vị chánh án không phải là Đẩu đã trở về ngồi sau chiếc bàn lớn mà là tôi, với mấy vết thương đã lên da non nhưng vẫn để dấu vết trên mặt.
- Tùy bà! - Đẩu thay đổi cách xưng hô, khoác lên mình cái cung cách bề ngoài của một vị chánh án - chủ trương nguyên tắc của chúng tôi là kêu gọi hòa thuận...
Đang ngồi cúi xuống, người đàn bà bỗng ngẩng lên nhìn thẳng vào chúng tôi, lần lượt từng người một, với một vẻ ban đầu ngơ ngác.
- Chị cám ơn các chú! - Người đàn bà đột nhiên thốt lên bằng một giọng khẩn thiết - Đây là chị nói thành thực, chị cám ơn các chú. Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn... cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc...
Chỉ mấy lời mào đầu ấy, người đàn bà đã mất hết cái vẻ ngoài khúm núm, sợ sệt. Điệu bộ khác, ngôn ngữ khác.
Cũng phải nói thật, những lời ấy, nhất là đấy lại là lời một người đàn bà khốn khổ, không phải dễ nghe đối với chúng tôi. Dầu mặt hãy còn trẻ, Đẩu cũng là một chánh án huyện. Còn tôi, một người đáng lẽ mụ phải biết ơn...
Nhưng người đàn bà để lộ ra cái vẻ sắc sảo chỉ đến thế, chỉ vừa đủ để kích thích trí tò mò của chúng tôi. Mụ đưa cặp mắt đầy vẻ mệt mỏi nhìn ra ngoài bờ phá bên kia con đường chính của phố huyện ở đấy, thiếu nữ mặc áo tím vẫn ngồi đợi mụ trên chiếc mủng.
Trong phút chốc, ngồi trước mặt chúng tôi lại vẫn là một người đàn bà lúng túng, đầy sợ sệt, nhưng có vẻ thông cảm với chúng tôi hơn. Mụ bắt đầu kể:
- Từ nhỏ tuổi tôi đã là một đứa con gái xấu, lại rỗ mặt, sau một bận lên đậu mùa. Hồi bấy giờ nhà tôi còn khá giả, nhà tôi trước ở trong cái phố này. Cũng vì xấu, trong phố không ai lấy, tôi có mang với một anh con trai một nhà hàng chài giữa phá hay đến nhà tôi mua bả (1) về đan lưới. Lão chồng tôi khi ấy là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập tôi.
Người đàn bà bỗng chép miệng, con mắt như đang nhìn suốt cả đời mình:
- Giá tôi đẻ ít đi hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn, từ ngày cách mạng về đã đỡ đói khổ chứ trước kia vào các vụ bắc (2), ông trời làm động biển suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối... cũng nghèo khổ, túng quẫn đi vì trốn lính - bỗng mụ đỏ mặt - nhưng cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật.
- Vậy sao không lên bờ mà ở - Đẩu hỏi.
- Làm nhà trên đất ở một chỗ đâu có thể làm được cái nghề thuyền lưới vó? Từ ngày cách mạng về, cách mạng đã cấp đất cho nhưng chẳng ai ở, vì không bỏ nghề được!
- ở trên thuyền có bao giờ lão ta đánh chị không? - Tôi hỏi.
- Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu... Giá mà lão uống rượu... thì tôi còn đỡ khổ... Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão... đưa tôi lên bờ mà đánh...
- Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được! - Đẩu và tôi cùng một lúc thốt lên.
- Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông...
- Phải, phải, bây giờ tôi đã hiểu, - bất ngờ Đẩu trút một tiếng thở dài đầy chua chát, - trên thuyền phải có một người đàn ông... dù hắn man rợ, tàn bạo?
- Phải - Người đàn bà đáp - Cũng có khi biển động sóng gió chứ chú?
Lát lâu sau mụ lại mới nói tiếp:
- Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con, nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó! - Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên như một nụ cười - vả lại, ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ.
- Cả đời chị có một lúc nào thật vui không? Đột nhiên tôi hỏi.
- Có chứ, chú! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no...
Viên chánh án huyện rời chiếc bàn xếp đến phát ngốt lên những chồng hồ sơ, giấy má. Đẩu đi đi lại lại trong phòng, hai tay thọc sâu vào hai bên túi chiếc quần quân phục đã cũ. Một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển, lúc này trông Đẩu rất nghiêm nghị và đầy suy nghĩ.
Người đàn bà đã khóc khi nghe tôi nhắc đến thằng Phác. Nhưng tình thương con cũng như nỗi đau, cũng như cái sự thâm trầm trong việc hiểu thấu cái lẽ đời hình như mụ chẳng bao giờ để lộ rõ rệt ra bề ngoài. Trong cái đám con cái đông đúc đang sống ở dưới thuyền, mụ không yêu một đứa nào bằng thằng Phác, cái thằng con từ tính khí đến mặt mũi giống như lột ra từ cái lão đàn ông đã từng hành hạ mụ, và không khéo sẽ còn hành hạ mụ cho đến khi chết - nếu không có cách mạng về.
Mụ cho chúng tôi biết, vì sợ thằng bé có thể làm điều gì dại dột đối với bố nó, mụ đã phải gửi nó lên rừng nhờ bố mình nuôi đã nửa năm nay. ở với ông ngoại, thằng bé sướng hơn ở trên thuyền với bố mẹ. Nhưng hễ rời ra là nó trốn về. Thằng bé tuyên bố với các bác ở xưởng đóng thuyền rằng nó còn có mặt ở dưới biển này thì mẹ nó không bị đánh.
Chiều hôm ấy trong khi Đẩu gặp lão đàn ông để giáo dục răn dạy lão thì tôi trở lại xưởng đóng thuyền. Vắng thằng Phác, dù sao cái bãi cát cũng như cả vùng phá nước trở nên trống trải thế nào ấy. Đêm, những đàn chim di cư vẫn vỗ cánh trong sương, bay qua vùng phá. Tôi khoác chiếc máy ảnh đi lang thang cho đến tận khuya, đã mỏi cả chân, tôi đến ngồi bên một ngọn lửa. Nhím phoi bào bắt cháy sang mấy cái đầu mẩu gỗ cưa ra từ các lẻ ván của một chiếc thuyền mới vớt lên được, sau vụ đắm thuyền trong vụ bắc năm ngoái.
Gần sáng trời trở gió đột ngột, từng tảng mây đen xếp ngổn ngang trên mặt biển đen ngòm, và biển bắt đầu gào thét, sóng bạc đầu ngoài cửa lạch nổi cồn lên cao như những ngọn núi tuyết trắng.
Trong phá, các thứ tầu thuyền đều tìm vào bờ để trú, duy ở giữa phá chẳng hiểu vì sao vẫn còn thấy một chiếc thuyền vó bè đang đậu.
Gió rú ào ào chung quanh chiếc xe Reo vừa mới ở trên rừng xuống, chưa giỡ gỗ xuống hết. Cái ông lão đã ngoài sáu mươi mà vẫn còn theo đuổi nghề sơn tràng đang ngồi bên bếp lửa giữa trời, vẫn đặt hai con mắt đầy vẻ lo lắng ra ngoài mặt phá, nơi có chiếc thuyền.
Cái bếp lửa cũng bị gió ném tung ra khắp bãi cát, những tàn lửa đỏ rực bay quẩn lên chung quanh chỗ tôi và ông lão ngồi. Tôi xem lại xoong cơm đã sống nhăn hộ ông lão, đoạn gào lên:
- Chiều gió này không khéo bão cấp 11 rồi?
- ừ, ừ... ! - Ông lão lẩm bẩm, vẫn không rời mắt khỏi chiếc thuyền đang chống chọi với sóng gió giữa phá.
Những tấm ảnh tôi mang về, đã được chọn lấy một tấm. Trưởng phòng rất bằng lòng về tôi.
Không những trong bộ lịch năm ấy mà mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp của tôi vẫn còn được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật. Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kỹ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông.
8-1983
Khách ở quê ra
Ngoài trời vẫn mưa. Mưa đã mấy ngày cũng chả còn ai nhớ được nữa.
Chỉ thấy một khối nước trắng lúc nào cũng tuôn rào rào ngoài mảnh sân hẹp và mau hơn, giòn hơn trên mái ngói chi chít của dãy phố. "Cho mày mưa! Cho mày mưa! - khách nâng chiếc bát lên lại đặt xuống - cứ mưa nữa đi! Lúa trổ xong rồi. Lạc cũng nhổ rồi. Chỉ còn mấy miếng nếp. Chà, mấy miếng nếp mưa này rồi cũng hơi gay đây. Nhưng cũng chẳng sao! Cũng chẳng việc quái gì!".
- ... Vậy rồi nó xách một con dao... một con dao quắm hẳn hoi chú à! - đang nhìn ra ngoài trời, khách thu cả hai con mắt về, nhô nửa người qua mâm cơm - Tôi thấy nó lao như mũi tên từ trong bếp ra. Con dao cầm lăm lăm trong tay. Con dao quắm vừa sáng vừa sắc, tôi vừa mới mài. Con dao thì sáng loáng mà cái mặt nó thì cứ trắng nhợt. Ấy là tôi đang nói cái thằng Dũng - cái thằng con trai đầu của tôi đó chú à! Nó chạy xồng xộc ra chỗ đầu bờ mương tôi với lão chắt Hòe đứng. Tôi biết ngay. Phen này mình không nhanh tay ắt có án mạng. Chứ không còn là chuyện cãi cọ đôi co vì mấy con dê giữa tôi với lão chắt Hòe nữa. Bọn thanh niên nó khác. Chúng nó không thích đôi co đâu!
Mà cái lão chắt Hòe thì đằng thẳng ra, cũng đáng chết lắm. Chú tính, cái giống dê, dù rằng mỗi con có bốn chân nhưng chân cẳng của dê làm sao giẫm hết cả một sào nếp? Đàn dê của tôi có sáu con cả thảy. Nhưng chân dê chứ có phải chân trâu bò đâu?
Tôi cũng có một miếng nếp, nhất định tôi sẽ đền cho bác - Tôi nói với lão chắt Hòe - Cả hai miếng cùng một tràn ruộng, cũng đều một sào cả - Tôi nói ôn tồn. Vậy mà cha con nhà lão cứ chực xông vào đánh tôi. Lại đem tên bố mẹ tôi ra mà réo chửi. Cho nên thằng Dũng nó tức.
May làm sao! Cái con mẹ Huệ nhà tôi lúc ấy cũng vừa gánh hai thúng đá ngoài ruộng về. Đặt gánh đá xuống, nó lao theo. Nó ôm chặt lấy thằng Dũng, giằng được con dao quắm! Tôi nghĩ thật hú vía!... chứ không thì bồ ổ nhà lão chắt Hòe bữa đó... thế nào cũng có đứa biến thành ma ông Cụt. Nói vô phép chú chứ, con cái nhà nó tiếng là đông cũng chỉ có hai mống là lớn, chứ bên nhà tôi có những bốn đứa lớn cơ!
***
Trong khi khách nói, Định ngồi ngắm lão. Định ngắm kỹ và lâu nhất hai bàn tay của lão. Chẳng còn là hình thù một cái bàn tay con người nữa! Hai bàn tay lão đầy những chỗ nỗi u nổi cục, các ngón vặn vẹo và bọc một lớp da giống như một thứ vỏ cây, và cả bàn tay lão giống y như một tòa rễ cây vừa mới đào dưới đất lên. Và Định như đang nhìn thấy một thứ đất đến kỳ cục: cứ lổng chổng đầy những đá. Viên bé chỉ là một hòn đá kỳ lưng, hòn to cũng ngang cái đầu. Và lại còn cơ man là rễ cỏ tranh. Một vùng đất của dân biển lên mở trại lúc nào cũng phả ra chung quanh mùi rễ cỏ tranh ngai ngái, hăng hắc và ai đã đến đấy khi trở về, vẫn cứ phải nghe mãi cái dư âm ken két đầy rền rĩ của những chiếc xe cút kít - mà sự ra đời của nó lại như một phát kiến của loài người: Công việc khẩn đất ở đấy nặng nhất là khâu nhặt đá. Ban đầu từ người lớn đến đứa con nít cũng chỉ dùng tay. Về sau mới tiến lên đan ky, đan sọt để khiêng và gánh. Tiến lên một bước nhảy vọt, người ta đóng xe cút kít để chở đá.
Vùng đất đó là một vùng phía tây của miền trung - cái vùng "chó ăn đá, gà ăn sỏi" - mà giá không có bàn tay của những người như lão Khúng, lão cháu ruột của Định kia thì vẫn mặc sức ngủ kỹ dưới lốt chân hổ báo, dưới gió Lào, dưới giông bão, dưới bom đạn.
Vào một lần cách đây đã mười bốn năm, Định khoác chiếc ba lô cóc nặng gần bốn chục cân - trên đường đi B dài - đến một cung độ từ đấy đâm thẳng xuyên qua đường số Một về phía biển là làng Định. Đoạn đường giao liên vừa bỏ rừng chạy qua những triền đồi trọc. Hình như địch vừa ném bom. Trong cái nắng đến ngột thở có pha lẫn mùi thuốc bom. Hố bom, cái đỏ quạch, cái vàng sẫm. Nhìn ra bốn phía chung quanh nhấp nhô những dãy đồi cứ chạy xô vào nhau như rắn cuộn, thỉnh thoảng y như tận trên trời cắm thẳng xuống một hòn núi đá như một chiếc lưỡi tầm sét.
Trong cái nắng chiều ong ong, ngột ngạt, không lúc nào ngớt tiếng máy bay phản lực Mỹ bay lên từ mạn biển, một dáng người đàn ông cúi khom lưng xuống đẩy một chiếc xe chở đầy đá.
- Anh Định đấy hả?
Định nhận ngay được giọng "kẻ biển" của làng mình - vừa nặng trịch vừa véo von như hát - nhưng phải một lát sau mới có thể nhận ra lão chắt Hòe:
- Bác làm gì tận trên này?
- Tàu bay thằng Mỹ nó vít mất lối ra chỗ có con cá rồi! - lão chắt Hòe thở hắt ra một tiếng, cái mặt nhuộm muối biển càng đen sắt - Bố con tôi vừa kéo nhau lên đây!
Định kéo lão chắt Hòe tới một gốc cây, mở lương khô khoản đãi, đưa thuốc lá cho lão hút, tỷ tê hỏi đủ mọi chuyện dưới làng. Đến lúc sắp đứng dậy lão mới bảo:
- À này anh Định, nhà thằng Khúng cũng đang ở trên này...
- Thằng Khúng nhà tôi hả bác? Nó lên đây một mình hay cả nhà?
- Cả con vợ với ba thằng quỷ sứ.
- Nó lên lâu chưa?
- Nó lên đầu tiên. Bỏ làng lên đã nửa năm nay. Tôi thấy bồ ổ nhà nó sống được nên cũng mới nghe nó rủ, kéo lên theo.
- Nó ở gần đây không?
Định nhìn theo mũi con dao quắm lão chắt Hòe nhứ nhứ về phía khoảng bìa rừng xanh um, từ ở đấy vẳng lên tiếng hót đầy lảnh lói như có cạnh sắc của com chim "bắt tép kho cà".
Gần trọn ngày hôm sau, Định lạc giữa một vùng rừng và đồi trọc, đến chiều tối mới tìm thấy cái gia đình ông cháu chả khác nào một cái ổ gấu chó nằm lọt vào giữa một vùng rừng cỏ tranh cao ngập đầu, đó là một cái túp bằng lá cỏ tranh bện lại, bốn chung quanh xếp đầy đá, dựng trên mấy vạt đất mới vỡ.
Trong cái ổ gấu, mấy chú gấu con đang đánh lộn nhau khi ấy chỉ mới là một phần ba số con cái của Khúng, và người đàn bà đã đẻ ra những đứa trẻ ấy, tuy sống giữa rừng nhưng vẫn trẻ đẹp, còn Khúng, y như một con người vừa từ dưới lỗ lên, vừa đen vừa gầy vừa già vừa xấu.
Bữa đó Định cầm mấy phong lương khô đi theo định làm quà cho mấy đứa cháu gọi Định bằng ông, nhưng đến nơi mới biết, trong túp lều vợ chồng Khúng, dưới cái hầm thùng chất đến những ba thùng lương khô còn mới nguyên. Thì hóa ra cái vùng đồi dân miền biển lên sơ tán và khai hoang để chống đói này cũng không xa các bãi khách của bộ đội đi B là mấy nỗi. Các đơn vị tên lửa và xe pháo đều đóng đầy quanh đây cả, trăm thứ của nả của chiến tranh đều không thiếu.
Trên đường vào nam đánh giặc, Định mới có dịp hiểu biết kỹ hơn ý đồ làm ăn lâu dài của người cháu: Rời làng lên đã nửa năm mà Khúng chưa chịu làm nhà, hắn vẫn để vợ con chui rúc dưới mấy tấm phên cỏ che trên cái hầm thùng. - "Dựng nhà làm khỉ gì - Khúng nói với vợ - làm mục tiêu cho tàu bay nó bắn ư?". Bao nhiêu sức lao động trong "bước đi ban đầu" hắn đem dồn hết vào việc vỡ đất. Hắn tranh chấp với rừng từng bước, không phải chỉ bằng mồ hôi mà cả bằng máu: Ngày mới lên, hắn đã bị thương trong một lần máy bay ném bom đêm - giữa lúc hắn đang vãi lúa lốc.
Chung quanh cái "ổ gấu" dần dần mọc lên một vành đai sắn ở phía ngoài, sắn lên xanh ngắt chen chúc cây dại. Đậu xanh, đậu tương ở sau nhà. Lúa tẻ, lúa nếp trước nhà. Chỗ ăn ở tuy chưa được "đầu tư" thế nhưng hôm trời nắng to, vợ hắn lôi ra phơi bên cái bờ mương dẫn nước - trên mấy cây sào nứa hàng đống quần áo, chăn màn; toàn đồ quân trang, quân dụng của anh em bộ đội đi B. Chẳng hề giấu giếm, ông cháu ruột "báo cáo với chú" đã đổi được bằng thịt dê và rượu. Ngày ở dưới làng, vợ chồng con cái rách như tổ đỉa. Bây giờ cả nhà hắn mặc quân phục. Người nào cũng lành lặn. Vào dịp dưới làng có giỗ chạp, Khúng đánh hẳn một bộ tô châu xuất hiện trước mắt những người làng với tư thế của một người đi làm ăn xa về ăn nên làm ra, lại vừa với dáng vẻ một cán bộ trên vùng khai hoang về.
Phú quý sinh lễ nghĩa, hắn mang về cúng hẳn nhà thờ họ một chiếc võng đôi bằng loại vải tê-tờ-rông, để thuê thợ vẽ cây gia hệ. Cả họ năm nào tế tổ cũng cứ bàn nát ra về việc quyên cúng tiền mua mấy mét lụa, bây giờ hắn cúng vào một tấm tê-tờ-rông, thế là xong.
Thậm chí vợ hắn cũng trở lại với những thói quen của một người thành phố đã bỏ quên từ lâu. Từ rất lâu vợ hắn tưởng đã bỏ quên hẳn thói quen mặc áo lót mình. Sau mỗi lứa đẻ, hai bầu vú để thỗn thện, bây giờ "co" người lại trở nên gọn gàng, và chiếc nịt vú của người đàn bà cũng may bằng thứ mặt hàng quân phục. Đêm nằm bên vợ, bây giờ hắn thấy trên khuôn ngực trắng như ngó sen tự nhiên úp vào hai cái vung may bằng thứ vải tô châu mới xanh biếc, như hai con cánh cam to tổ bố, nom đến tức mắt.
***
Về người cháu đích tôn này, có thể nói cứ mỗi bận Định về làng trong những dịp họa hoằn lắm trong đời, không thể không về, như sang tiểu cho bố mẹ, người thân chết - lần nào Định cũng phải đóng vai trò như một chứng nhân của một quãng đời có cái gì khác thường của hắn. Kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, Định bận bịu mãi với đám tù binh, thu xếp cho chúng về nước hết anh mới về thăm làng được. Bị ném bom bao nhiêu lần, làng vẫn nguyên vẹn, vẫn y như hồi Định còn cắp sách đi học trường tiểu học, chỉ thấy cái gì cũng bé lại, từ con sóng ngoài biển cũng bé lại và cũng phủ một lớp bụi cũ kỹ. Cuối kháng chiến, làng được tặng thưởng huân chương vì thành tích tổ chức được một đội thuyền vượt biển đi tiếp tế vũ khí tận trong Khu Năm. Nhưng chiến tranh kết thúc, gần bốn chục cặp thuyền giã khơi chỉ còn lại một mớ xác thuyền nằm gối bãi rải rác dọc con sông nước mặn.
Định gặp Khúng ở ngang cái xóm đạo nhìn sang bên kia sông là mấy mảnh tường đá còn sót lại của một cái nhà đoan Tây ngày xưa. Hắn mặc một chiếc áo vải thô nhuộm vỏ già đã nhùng nhục, hai vạt trước mở phanh, một chiếc nón đan bằng giang cắp bên nách, quần dài cởi vắt vai.
- Chú Định, chú đến là tệ! - Hắn túm lấy anh, mùi rượu phả sang mặt Định, lẫn mùi thịt chó - nghe nói chú về đã mấy ngày mà cứ ở tịt đâu tận trên Ủy ban...
- Nào đâu có, kìa, tao vừa về đến đây... hồi này có vẻ cậu như đã chuyển sang làm nghề biển rồi?
- Cánh nghề biển đang chạy túa lên các xứ đồng cắp rổ đi mót khoai lang kia kìa! - Hắn ưỡn ngực ra - Vả lại, mình phải giữ lấy cái nghề gốc của đời ông bà chứ?
- Nếu làm ăn ra... xoay sang nghề biển cũng được chứ có sao?
- Thế là chú mất gốc. Họ nhà mình chỉ nên sống với cái hòn đất.
Khúng giành lấy ba lô, túm áo mũ Định lôi tuột anh về nhà hắn. Ôi, nhà với cửa! Ngôi nhà của hắn mới thoạt nhìn thấy, Định đã hốt hoảng. Sao mà hắn lại có thể phỉ báng thần linh đến thế cơ chứ? Cả làng có độc một ngôi đền chung cho cả dân đánh cá lẫn dân ruộng nằm thìa lia ra ngoài cửa lạch, nổi tiếng khắp vùng đền làng Khơi là đền thiêng. Ngày xưa, hàng xóm nhà Định có một tay dân đánh cá chẳng hề biết sợ hãi ai cả, nổi tiếng ốc sạo, ngang bướng, vậy mà một lần đi qua trước cổng đền, trông thấy một bãi cứt trâu liền ngồi xuống dùng hai tay hót vứt đi. Ấy vậy mà bây giờ cái thằng Khúng cả gan dám dựng nhà ngay trên cái nền đất cao ngất của ngôi đền làng mà ở. Tiếng rằng ngôi đền đã bị đánh bom nhiều đợt chỉ còn một hàng bậc thềm xây đá Thanh, nhưng làm nhà ở trong khu đất của đền như một vài người khác đã quá lắm, vậy mà hắn lại leo lên đúng ngay chỗ thần linh đứng?
- Xùy, cháu cứ tưởng chú đã đi bộ đội phải nghĩ khác những người làng... - Khúng nói lấp lửng.
- Theo cậu thì nghĩ như mình và bà con trong làng là... lạc hậu ư?
- Cháu ngu dốt, từ nhỏ đi học đã tối dạ, nhưng chú biết đấy, từ nhỏ cháu đã là đứa khoảnh nghịch. Cháu cất cái nhà lên ở đây, người ta đồn đại ghê lắm! Chẳng phải chỉ có làng này mà tiếng tăm cháu đồn đến tận nhiều làng khác cơ!
- Vậy là cậu nổi tiếng?
- Hì, hì... nổi tiếng thích chứ chú? Chú tưởng chú không thích nổi tiếng đấy hử? Người ta sống ở đời, chưa có miếng ăn thì cúi gò lưng xuống mà kiếm miếng ăn, có miếng ăn rồi thì ngẩng cao mặt lên cho thiên hạ biết mặt. Đến con cua con cáy cũng có lúc nó phải khuơ cái càng lên trời cơ mà!
- Cậu cũng đang khuơ cái càng lên đấy!
- Cháu đã mang tội nhạo báng thần linh thì chú cũng đừng nhạo báng cháu, cho có tội! À này, tháng trước cháu vào trong chợ Chầu mua cái ách cày, tận tai cháu nghe một mụ hàng nước nói rằng ngoài làng Khơi có một tay làm nhà trên đất đền, nhà cất lên đã cháy đi cháy lại ba bận, nuôi con chó, con lợn đều chết. Vợ ốm, con ốm.
Định phì cười:
- Làm gì cậu đã có vợ mà ốm?
- Có, có... chú đi bộ đội cháu không biết ở đâu cho nên cháu không báo cáo được với chú đó thôi!
Miệng nói chân hắn thò xuống phản khua đôi guốc mộc. Tận đến lúc bấy giờ Định mới kịp để ý đến cái ánh lửa rơm cháy phừng phừng có thể soi rõ hình ông Thiện và ông Ác đắp nổi ngoài cổng đền.
Vợ Khúng mặc chiếc áo len xanh cụt tay, rón rén đi theo Khúng lên chào ra mắt Định. Trời đã tối, Khúng châm ngọn đèn. Hắn vừa khêu to bấc đèn vừa lúng búng:
- Chú đấy!... - rồi quay sang Định - vợ cháu vừa đẻ. Nó tên là Huệ.
Người cháu dâu, vừa thoạt nhìn Định đã thấy chẳng có gì ăn nhập với Khúng, cũng y như cái nền ngôi đền linh thiêng trên đó hắn vừa cất lên túp lều của hắn.
Giữa hai con người có một cái gì quá đỗi khập khiễng, ai mà tin được có thể là hai vợ chồng, khi người vợ như một nữ sinh thành phố đứng bên cạnh Khúng. Chả khác một chiếc cốc pha lê bày bên một chiếc cối giã cua.
- Cháu ở đây... có thấy sợ không? - Câu đầu tiên Định hỏi người cháu dâu.
- Thưa chú... một mình cháu thì cháu không dám ở ạ!
- Chắc là cháu ở một thành phố nào ngoài Bắc?
- Thưa vâng ạ. Cháu ở thành phố Nam Định.
- Sao cháu nói pha tiếng trong này?
- Lên năm tuổi, thầy cháu đưa cháu đi theo vào Vinh rồi sang Luông Pra-băng. Thầy cháu là kỹ sư cầu cống. Cháu về Bắc rồi lại vào Vinh một lần nữa, đi học cho đến ngày ta phá thành phố...
Người con gái không nói tiếp. Định cũng không hỏi thêm, anh không dám. Đến hồi đó mới khoảng năm 1947. Khúc đường đời từ đó về sau, trong cảnh kháng chiến chắc hẳn không ít các điều bất ngờ xảy đến. Định chợt nhìn thấy một vẻ chán chường tuy kín đáo hiện ra ở cái nếp nhăn thấp thoáng bên khóe miệng người con gái thành phố. Chẳng lẽ đến đây, như đã là một bước đường cùng, hay một bước đường tạm dừng?
Trong buồng, đứa trẻ đang khóc. Huệ vội vã chạy vào bế đứa trẻ ra trao cho Khúng, để đi dọn cơm.
Đó là một đứa con trai, mới chừng vài tháng. Đột nhiên Định sực nghĩ chắc chắn đứa bé không phải là con Khúng.
Nằm trên đôi cánh tay của Khúng, nó càng khóc ngăn ngắt y như bị đau đớn ở một chỗ nào đó trong người.
Định chìa tay ôm lấy đứa trẻ, bế đến bên cái đèn. Anh hỏi Khúng:
- Đặt tên con là gì?
- Hình như con vợ tôi nó đặt là Dũng - Khúng đáp.
***
- Đã già, mặt mũi lại y như cái nồi đất kho cá, mà... mà cái lão chắt Hòe một bận đang đêm lẻn vào buồng vợ tôi, nấp vào sau cái chum. Nhà Huệ nó biết liền đóng sập cửa lại. Có mà chạy đường trời! Chẳng xơ múi gì mà từ đó hễ trở trời là lão kêu đau. Tôi chỉ giáng cho một gậy thước vào lưng chứ có nhiều đâu.
- Cậu uống nước đi rồi ăn cơm! - Định giục ông cháu.
- Tôi không ăn cơm đâu... Từ đó, lão ta đâm ra thù tôi, lão nói với thằng Dũng nhà tôi rằng mày không phải là con lão Khúng. Mẹ nó chứ, không phải là con tôi mà tôi lại nuôi từ lúc mới lọt lòng ra? Mà tôi đã cưới vợ cho nó tốn hết bao của nả? Không phải là con tôi mà trời mưa gió lụt lội thế này, tôi cũng phải cất công tiễn nó ra tận Hà Nội... để cho nó đi bộ đội.
Ông khách nhắc chiếc chai lên, lại xối rượu vào chiếc bát sứ. Nhưng khách vẫn chưa nhấc chiếc bát mà chỉ chun mũi hít hít cái không khí ẩm ướt hơi lành lạnh tan vào trong hơi men. Chẳng còn nhớ gì nữa đến những miếng nếp và khoảnh lạc bao quanh cái ngôi nhà mới xây năm gian tuyền bằng đá, lão Khúng chỉ còn nhớ được cái lúc chuyến tàu hỏa sắp vào ga Hàng Cỏ, tàu lắc mạnh hơn và đi chậm lại. Trong lúc thằng Dũng cùng lũ trẻ mới đi bộ đội thò nửa mặt ra ngoài cửa sổ ngắm phố xá san sát hai bên thì lão mặc dầu chưa ra Hà Nội bao giờ, mặc dầu trăm thứ lạ lùng đang bày ra chung quanh, lão cũng không muốn để con mắt đi đâu ngoài đứa con. Lão nghĩ: hễ đến khi tàu dừng hẳn là mình cũng phải xa nó hẳn. Lão thế mà yếu đuối.
Gần một đêm một ngày ngồi tàu chung với đám thanh niên tòng quân, lão chỉ toàn khoe đứa con. Đến nỗi người chịu chuyện, một đồng chí thượng úy làm nhiệm vụ đưa hai toa tàu chở tân binh từ miền trung ra, cũng phát sốt ruột vì lão. Lão kể lể bao nhiêu thứ chuyện về cái thằng Dũng với một nỗi tuyệt vọng: không bao giờ bộ đội người ta có thể hiểu hết giá trị của con lão, một cái máy cực tốt sản xuất ra bao của nả nhà lão. Thế vậy mà vợ chồng lão đem trao cho bộ đội quách. Thế vậy mà vợ chồng lão lại lấy đó làm điều vinh dự, sung sướng.
Nhưng mà tiếc, nhưng mà nhớ nó lắm! Chao ôi, từ nay sẽ không bao giờ được trông thấy cái dáng nó đứng trong rừng, ưỡn người về sau, tay nâng lưỡi rìu lên quá đầu, một tiếng "chóc" của lưỡi thép chém ngập vào thân gỗ đã tan đi rất lâu, vậy mà không có gì xóa đi được những khoảng da thịt tươi non ướt đẫm mồ hôi in vào lá cây, in vào cõi im vắng của rừng sâu. Nó là đứa con trai làm việc khỏe lại thành thạo nhất trong bốn đứa con lớn nhất của nhà lão. Là đứa con có mặt ngay bên cạnh lão, khi có đứa hiếp ức lão.
Xì, làm việc gì mình chỉ nên nghe mình là hơn cả! Sau ngày vợ chồng lão trả miếng đất linh thiêng lại cho thần làng sau cái vụ có đứa đốt nhà lão, một cô y tá đứng trước thềm trạm xá xã phát thuốc ngừa thai cho đám đàn bà đi khai hoang, đã đưa bàn tay vỗ vỗ lên vai vợ lão: "Chị Huệ, chị đẻ ít thôi, ba cháu là đủ rồi!".
Đủ sao được? Dù vợ không muốn, lão cũng bắt vợ phải đẻ. Đẻ rồi nuôi, sợ gì? Cái kho người nằm trong bụng vợ chứ có ở đâu xa? Đã dám bỏ làng bìu ríu nhau lên sống giữa chốn rừng thiêng, hoang vắng, đi hàng nửa ngày không gặp một người, thì phải có thêm người chứ? Không có thật đông người làm sao dọn hết đá? Làm ra con người khó đếch gì?
- Cũng chẳng phải dân đi trang trại mà dân ở làng cũng vậy, chú Định ạ. Cái cô y tá khoa sản ở trạm xá xã ta, hắn nói vậy chứ hắn cũng đẻ khiếp lắm! Ở nhà quê mình, nhà nào đông con mới có uy thế được...
- Cậu nói cái gì lạ vậy hử? - Tự nhiên ông chú nổi giận - Cậu định phá cái nước này đi đấy hử? Tung ra bao nhiêu cán bộ y tế để vận động sinh đẻ có kế hoạch, nói đến rã bọt mép. Khéo, khéo cậu đang tuyên truyền phá chính sách đấy. Cậu phải thay đổi cái đầu óc đi!
Định hiểu những vấn đề trầm trọng của phát triển dân số trên toàn thế giới và trong nước mà lão Khúng mù tịt. Lão không cãi, chỉ đưa mắt ngắm cái gian nhà bằng cái lỗ mũi của ông chú với một cái gác lửng xếp tú ụ những đống chăn, gối mà đêm qua lão phải ngủ trên đấy, suốt đêm mót đái lại thèm thuốc lào mà cứ phải nằm im, ho khạc một cái cũng sợ làm tỉnh giấc nhà hàng xóm.
Tự nhiên hăng lên, lão xòe năm ngón tay khẽ khàng quắp vào khoảng xương đầu gối ông chú:
- Nhưng cháu xin hỏi: cả một đời chú, đã bao giờ chú phải dọn đá, trồng cây và làm nhà chưa, hay chỉ ăn lương và ở nhà của Nhà nước? Đã bao giờ chú phải chịu những đứa chung quanh cậy đông hà hiếp mà phải cắn răng chịu chưa?
Định cười ha hả:
- Cứ như cái ngày đi B ghé vào chỗ cậu, cũng khó mà tin được vợ chồng có thể trụ lại ở đấy được thực.
- Tôi trụ lại được là nhờ có bầy con sau này lớn lên.
- Cũng phải nói cho thỏa đáng, về sau có thêm nhiều bà con lên nữa chứ? Cũng phải nhờ có cái tập thể dựa vào nhau nữa chứ?
- Cũng có khi tối lửa tắt đèn. Thực là thế. Nhưng đã có thêm người là có thêm ganh ghét nhau, thậm chí thù ghét nhau. Chú có biết tại sao lão Hòe từ ngày lên khai hoang trở thành thù ghét với tôi không? Do là ngay từ ngày đầu, trong bụng lão đã ngầm ức với tôi vì mấy khúc xương của một con lợn lòi bắn được ngoài rừng. Đều muốn nấu một nồi cao toàn tính cả, cả lão và tôi đều muốn lấy. Vì tôi mạnh hơn thế nên tôi lấy được.
- Thì chia nhau có hơn không?
- Nói như chú!
Chai rượu hết. Khuôn mặt ông khách vẫn như thường, chỉ có hai con mắt hơi gợn những vằn đỏ. Từ đầu bữa đến giờ lão mới nhấc đôi đũa gắp một khúc xương rán cháy cạnh nhưng rồi lại thả xuống, nhón trên đầu đũa một trái ớt đỏ tươi chẻ tư như một bông hoa trong cái thẩu dấm, đưa lên miệng. Lão nhấp ngụm rượu cuối cùng. Vị cay chua truyền đi khắp người lão. Lão cầm chiếc khăn mặt bông trên đầu gối, lau hai con mắt ươn ướt và đến bấy giờ lão mới nhận thấy những câu chuyện với ông chú từ đầu bữa đều là chuyện tào lao cả.
Lão lại trở về với cõi lòng sâu thẳm và mỗi ngày một khép kín của đời lão. Phàm con người ta ở đời, có cái gì hơn người, sướng vì nó mà chuốc lấy cay chua cũng vì nó? Vợ lão đẹp thực. Chả là cái thá gì cả, chẳng phải chủ tịch, bí thư, cũng chẳng phải điển hình chăn nuôi hay vệ sinh, chỉ vì một con vợ đẹp mà suốt đời lão nổi tiếng. Ở dưới làng hay lên trại, lão đều có nhiều người biết tên. Có nhiều công việc phải lên xã hay ra ngoài hợp tác, lão nói rã bọt mép không xong, nhưng mụ Huệ vấn chiếc khăn xanh lên đầu, đi là xong. Trong số chín đứa con - tẻ, nếp lẫn vào cũng có. Lão biết. Nhưng cũng đừng một kẻ nào nên nghĩ rằng có thể dễ bờm xơm được với vợ lão. Giới chức việc chẳng ai lay chuyển được vợ lão, tuy rằng "cái đám dân đi cày ngồi bàn giấy ấy" - như lão thường gọi - cũng "lãng mạn" ra phết. Có một anh theo đuổi vợ lão từ khi còn là một nhân viên coi kho của hợp tác xã cho đến khi leo lên đến cái chân kế toán trưởng, rồi phó chủ nhiệm hợp tác xã, từ khi còn là một anh chưa vợ đến tận khi đã vợ con, gần như vợ lão có tà thuật sai bảo là phải nghe, vậy mà suốt đời chỉ một lần, được nắm cái cổ tay của mụ Huệ chừng một phút.
Chán vạn người quyền thế, chán vạn kẻ phong lưu, đẹp mã, mụ Huệ đều không mắc, trước sau một mực chỉ biết có một người đàn ông là lão; vậy mà một lần, mụ đã mắc với một người, chung chạ và đẻ con với một người khiến cả làng không ai tưởng tượng nổi. Làng nước có thể gọt đầu bôi vôi một người đàn bà khôn ba năm dại một giờ, nhưng lại tha bổng và thậm chí đồng tình với một kẻ đã dám cố ý làm một công việc ngược ngạo.
Mụ Huệ phải lòng thằng Mới thật là ngược ngạo. Từ trước Cách mạng tháng Tám, người ta thấy thằng Mới - vốn là con hoang của một tay làm mõ trong làng - sống vất vưởng ở đầu ghềnh cuối bãi, theo thủy triều lên xuống để kiếm con ngao, con cá và thường nương náu nơi cổng đền làng. Sau Cách mạng, đáng lẽ hắn được đổi đời, nhưng trong khi tổ chức các đội dân quân cũng như các đoàn thể cứu quốc, người ta quên không gọi hắn, vả lại hắn còn nhỏ. Sau kháng chiến, Mới đã hai mươi tuổi, cũng là một điều lạ lùng, trong những năm bom đạn, hắn vẫn bám lấy cửa lạch và cái cổng đền đã bị bom đánh sập, vậy mà không chết. Hắn sắm được một chiếc mảng làm nghề câu biển, cũng có khi chạy sang nghề nông, cứ xam bán, và một lần nữa, trong khi tổ chức hợp tác xã, người ta lại quên hắn, nghĩ rằng cứ để hắn đứng ngoài với một chiếc mảng ghép bằng dăm ba cây bương, hắn chẳng chết đói mà cũng chẳng phát triển lên tư bản chủ nghĩa được.
Ngày cái nhà của Khúng ở dưới quê chưa cháy, có một vài kẻ trong làng thuê Mới đốt cái nhà dựng trên nền đền, nhưng hắn đã không làm mà còn mách với Khúng. Cũng vì cái ơn ấy mà Khúng cho hắn dựng nhờ cây sào, tấm lưới, có khi động biển, hắn còn được phép kéo chiếc mảng lên dựng vào sau túp nhà bếp của Khúng và nấu nhờ một bữa cơm. Không hiểu sao từ khi thoạt nhìn thấy thằng Mới, Huệ đã cảm mến ngay. Huệ có thể ôm con ngồi ngóng ra ngoài cửa lạch suốt buổi, để xem hắn câu, cái mảng lúc vào gần, lúc ra khơi, cứ lững lờ: hoặc là ngồi nghe hắn kể thói quen từng loài cá, tính nết từng đám mây. Hắn thật hiền, có lẽ hiền nhất làng và có một cái gì đó như một tâm hồn nghệ sĩ - một tâm hồn vô cùng thính nhạy nhưng lúc nào cũng khép kín. Đến bấy giờ thì Huệ đã hiểu vì sao trên khuôn mặt bầu bầu và rám nắng của Mới luôn luôn hiện lên một vẻ lơ đễnh đầy trong sạch gần như ngây ngô, giống như lột cái vẻ mặt của Th - bố thằng Dũng - những lúc Th. ngồi trước những mẩu đá.
Khoan, đứa con vụng trộm với Mới là thằng con trai thứ tư của Huệ, lớn lên mặt mũi giống Mới như lột - và Khúng, một người cha vốn quý trọng mọi nguồn lao động, vẫn yêu và quý thằng con trai thứ tư, đứa con đầu tiên sinh ra khi vợ chồng lão vừa lên vùng khai hoang, chả kém gì những đứa khác.
Kể cả cái thằng bé Khoan có khuôn mặt bầu bầu và nổi tiếng hiền lành nhất nhà ấy, dù là gì đi nữa nhưng điều quan trọng là lão đã biết rành rành nó là con thằng Mới, vẫn thuộc dòng máu của một anh dân làng Khơi tầng lớp mạt hạng - nghĩa là, lão đã biết hết cả mọi xuất xứ và nguồn gốc của nó.
Trong đàn con cái đông đúc mà mụ Huệ đã đẻ cho lão như một nguồn lao động trời cho ấy, chỉ có một đứa- là chính cái thằng Dũng - lão không hề biết rõ con cái nhà ai, không được phép hỏi mụ vợ, cũng không được phép tìm hỏi người khác suốt đời lão, không hề bao giờ lão hắt hủi và bằng tất cả tấm lòng thành thực, lão yêu thương nó, nhưng không bao giờ lão thoát ra được cái nỗi ám ảnh rằng nó mang dòng máu xa lạ với lão. Thằng con ấy, nó là đứa đẹp trai nhất nhà, một mình nó một khuôn mặt, từ con mắt, cái mũi đều như được chạm trổ tinh vi hơn. Nhưng đấy lại chẳng là cái vết thương sâu nhất của đời lão - suốt đời lão mang tiếng lấy vợ thừa người khác, chẳng là vì nó?
Trưa hôm qua, chia tay với thằng Dũng rồi lão còn quay lại đoàn tàu hỏa đang còn đậu ở trong sân ga một lần nữa, lão khúm núm trước cái anh bộ đội cấp thượng úy: "Đừng để nó phải khổ, đừng để nó phải đói rét, cái thằng Dũng nhà tôi ấy, việc gì làm cũng được nhưng lại khảnh ăn như một đứa con gái nhà thành phố!" - "Biết rồi bố ạ - anh bộ đội dẫn quân chế nhạo lão - vào bộ đội cũng không phải đi đày đâu. Bố cứ yên tâm!".
Thấy mình phút chốc trở nên y như một mụ đàn bà lẩn thẩn, nhưng lão vẫn cứ quanh quẩn bên cái tàu hỏa có đứa con đang ngồi, hết mua hoa quả lại bánh trái lật đật mang về bắt nó ăn.
Nửa giờ sau mới có một chiếc xe tải của một đơn vị bộ đội Hà Nội đến đón đám tân binh miền trung vừa ra. Trông thấy thằng Dũng rời tàu bước lên xe, thế là lão Khúng cứ quýnh cả lên. Chẳng biết làm gì trong cái phút chót, lão dúi thêm một mớ giấy bạc vào tay nó khiến thằng bé vừa thương bố lại vừa ngượng với bạn, đến nước nó phải gắt lên với lão trước lúc xe chạy.
Lão đứng lại một mình giữa cái sân ga Hàng Cỏ đầy những người lạ. Đến bây giờ lão mới đưa mắt ngắm nhà cửa, phố xá Hà Nội và lão sực nghĩ đến những lá thư được gửi đi từ đây - mà suốt gần hai mươi năm nay, cứ một vài năm vợ lão lại nhận được một lá. Đó là những lá thư riêng của vợ, mà lão đã đọc trộm. Những bức thư viết trên một thứ giấy thật mỏng, mà mỗi lần đọc xong, suýt nữa lão đã toan lấy làm giấy vấn thuốc. Nhưng lão không dám, lại đem cất lại như cũ, tận dưới đáy một cái trong xó buồng vợ.
Mỗi lần nhận thư, bao giờ đêm ấy vợ lão cũng thức chong, đuổi lão ra nhà ngoài nằm, hai ba ngày sau, cứ như một người câm và đối xử với lão như một người xa lạ.
Dù rằng suốt một đời đã bị lão Khúng biến thành một cái máy đẻ và đến bây giờ đã trở thành một người đàn bà thôn quê thực sự, một bà ké miền rừng thật sự, chắc hẳn Huệ vẫn cất giữ cho riêng mình một chút hình ảnh cuối cùng của cái thời thiếu nữ sống ở thành phố, cùng với một mảnh tình yêu đầu tiên đầy sâu nặng mà thời gian hai mươi năm chỉ có thể càng đào sâu chôn chặt vào tâm khảm.
Suốt gần hai mươi năm nay người đàn bà vừa gần gũi vừa xa lạ với lão Khúng không hề đặt chân đến một thành phố nào cả, kể cả cái thị trấn lâm nghiệp cỏn con, đìu hiu nằm kề sông chỉ cách nhà dăm cây số, cũng ngại đến.
Huệ đã gắn bó ngày một chặt chẽ với nhà cửa, nương rẫy, bởi chính chị đã phải cùng với lão Khúng nát óc tính toán, thức khuya dậy sớm, trút mồ hôi và sức lực đến gần cạn kiệt, để có tất cả ngần ấy của một gia đình nông dân đông con.
Đất đai và cây trái, trong khi con người làm ra nó thì chính nó cũng làm ra con người. Chính Huệ cũng đã trở thành một người đàn bà nông dân với cái tính ky cóp, chắt bóp, tham công tiếc việc, tham của và thậm chí đôi khi còn lắm điều nữa. Hàng xóm, láng giềng sang chơi thỉnh thoảng vẫn nhìn thấy cặp mắt Huệ nhìn len lén từ trong bóng tối, trong khi trút hàng chục vò rượu giấu trong buồng ra những chiếc bong bóng lợn.
Hoặc vẫn bằng hai bàn tay con gái thành phố - bây giờ đã đen đúa và sứt sẹo - Một tay bưng bát rượu, một tay cầm chiếc đũa cả ghè miệng một con dê bị trói chặt nằm giữa sân, Huệ đổ rượu vào miệng con vật trước khi cắt tiết nó bằng một con dao nhíp với tất cả vẻ thành thạo.
***
Chừng như đấy là một người đàn bà đã quyết tâm đoạn tuyệt với gốc gác thành phố?
Nhưng đời sống đô thị - cái niềm mơ ước thật xa lạ cứ mỗi ngày một hiện ra trong lòng những đứa con của Huệ một cách cụ thể, như một tiếng gọi của thời đại, nhất là vào những tháng cuối năm, mùa cà chua, chúng phải đèo những sọt cà chua chín đỏ xuống bán tận dưới chợ Vinh, sáng đi chiều về. Có khi ruộng cà chua chín rộ, hai ba đứa phải đi từ chiều hôm trước và ngủ đêm lại dưới thành phố.
Những buổi khuya sáng trăng, trong cái im lặng thẳm sâu từ những cánh rừng chung quanh như ùa tràn ra cái sân nề vôi trắng toát trước nhà, đám con tụ tập lại, kháo với nhau bao nhiêu là thứ chuyện đầy hấp dẫn về đời sống ở trong cái quầng sáng điện mà chúng vừa từ đấy trở về. Thế rồi một lần thằng Dũng đã bị lạc trong vùng quầng sáng kia đến những ba ngày. Khi trở về, hắn đã quyến theo về nhà một đứa con gái tóc uốn, Huệ cầm đôi đũa cả quấy cám lợn chạy ra đứng trước hiên nhà bếp, nhìn xuống con đường dốc đất đỏ ối của quả đồi đối diện. Chị nhìn thấy cái đứa con gái ngồi sau gác-ba-ga xe đạp của thằng Dũng, hai chân bỏ lọt vào một bên cái sọt không. Khi thằng con trai thả phanh cho chiếc xe lăn tuồn tuột đến chóng mặt xuống dốc, hắn đã cố ý bắt buộc đứa con gái tuy thẹn đến chết nhưng cũng phải nhắm mắt ôm ghì lấy ngang lưng hắn.
Về đến nhà, thằng Dũng dựng xe trước thềm, cúi xuống một bên sọt nhặt chiếc ba lô khoác lên vai đứa con gái, còn chiếc túi da có in hình chiếc máy bay cũng của cô gái, hắn vẫn xách trên tay. Sau khi biết bố đang còn bận nhặt đá ở trong Khe Đá Dầu với thằng Khoan chưa về, hắn điềm nhiên dẫn cô gái vào trong nhà bếp, giới thiệu như khoe với mẹ:
- Đây là cô Thùy Loan, kỹ sư, bạn mới quen của con!
Trời ơi, một thằng thanh niên miền rừng đi bán cà chua ở chợ tỉnh không biết làm thế nào đã tha về được một đứa con gái có bằng cấp cao sang là nhường kia, xét ra tuy không đẹp bằng thằng Dũng nhưng cũng là một cô gái khá xinh xắn và rất lễ phép, và một điều khiến cho người mẹ phải giật mình là mới thoạt nhìn, Huệ đã biết ngay là một đứa con gái sinh ra và lớn lên ở thành phố.
Tuy trong thâm tâm Huệ thấy chua xót và đã nhìn thấy một cái gì khập khiễng giữa hai đứa trẻ, nhưng chiều ấy, Huệ tiếp đãi đứa bạn của con trai đặc biệt trân trọng và ân cần.
Đêm hôm ấy, Loan ngủ với người mẹ ở gian nhà trong, một gian buồng ngủ mà bốn chung quanh cái giường nằm kê đầy những chiếc chum bằng đất nung đựng ngô, đậu, khoai lang khô, những chiếc bong bóng lợn đựng rượu và những lá thư không được trả lời. Nửa đêm về sáng, Loan thức dậy. Trong khi ở nhà ngoài thằng Dũng cũng thức dậy đang tìm điếu hút thuốc lào, Huệ nằm mơ màng chợt nghe thấy chung quanh cái nếp nhà ở miền rừng của mình cứ rộn lên đến chói tai những tiếng kêu rền rĩ của một chiếc xe cút kít đang lên dốc, trong một buổi chiều cách đây gần hai mươi năm...
Khi thằng Dũng đã hơi lớn, vào trạc mười ba, mười bốn, đến cái tuổi đủ sức quàng một đoạn giây chắp bằng vải cáu đen mồ hôi vào sau ót, tay nâng đôi càng đẩy chiếc xe cút kít lăn bánh, dù đang phơi hàng đống quần áo ngoài sân hay đang mắc bận nấu nướng và xua những con dê ra khỏi nhà bếp, bao giờ Huệ cũng nhận ra được đứa con đi vào rừng đẵn củi đã trở về - qua cái tiếng kêu của bánh xe cút kít, cứ rít lên trong cái trục gỗ. Và lần nào chị cũng cứ ngỡ như lại đến lượt thằng Dũng tha về một người đàn bà tóc tai rũ rượi, hai hàm răng trắng lóa nghiến chặt, lúc há to như thể không bao giờ còn khép lại được nữa, và cái bụng người đàn bà y như một quả trứng khổng lồ đang sắp rạn vỡ.
... Lúc bấy giờ mặt trời đã đứng bóng. Con đường xuyên rừng vắng heo hút, không hề có một bóng người. Huệ đang cố lết đi. Quãng đường đèo không dốc lắm nhưng dài quá sức một người đang đau bụng đẻ. Gắng đi thêm một quãng, Huệ lại tìm một cái cây, đứng tựa lưng vào. Chị nắm thật chặt chiếc khăn vuông hoa gói vài chiếc tã lót và một nắm cơm.
Lên được hai phần ba đèo, thì không đi được nữa. Chị phải ngồi lại bên một gốc cây. Cơn đau mỗi lúc một quặn hơn. Nhìn con đường trườn lên dốc chỉ thấy nắng, từ dưới lên cũng như từ trên phía đầu dốc đổ xuống vẫn chẳng thấy qua một bóng người.
Thậm chí một tiếng động cũng không có.
Nỗi thèm khát được gặp người. Không dám ước ao nhiều, Huệ chỉ dám ước từ trên dốc đi xuống một đứa trẻ, nếu nó là con gái thì càng hay.
Có lẽ mình phải sinh con một mình giữa rừng. Đến cái nước này Huệ chỉ còn ao ước được như người đàn bà trong cổ tích, được một con hổ đỡ cho.
Giữa lúc ấy, có tiếng xe cút kít vẳng lên ngân nga như tiếng sáo. Rồi Huệ ngó ra thấy một người đàn ông cởi trần, đẩy chiếc xe chất đầy những súc gỗ làm nhà, từ dưới chân dốc đi lên.
Ừ cũng lạ, lúc bấy giờ Huệ đã rút thật sâu vào sau cái gốc cây, không phải gốc cây bên đường mà một cái cây to tận trong sâu, lại có hòn đá bên cạnh che khuất hết cả người, vậy mà Khúng cũng nhận thấy có điều gì lạ, đã dừng xe lại.
Khúng liền vứt hết những phiến gỗ súc đã đẽo sơ thành hình kèo, cột xuống vệ đường, để lộ ra trên chiếc mê đan bằng tre một lớp than, có lẽ Khúng vừa đốt trong rừng. Người đàn ông lấy tay san đều những hòn than thành một chỗ nằm hơi trũng xuống rồi mới chạy tới đưa người đàn bà lên xe.
- Đi đâu?
- Đi đâu cũng được. Cho tôi sinh.
- Sắp chưa?
- Ngay bây giờ.
- Không tính được ngày sinh hay sao?
- ...
- Người ở đâu? Sao không có ai đi theo?
- ...
Mới đi được một quãng, mặt mũi chân tay Huệ đã đen nhẻm. Mình đang nằm trên một đống than vừa ra lò - Huệ tự bảo - Vẫn còn nóng. Chị cố nép sát vào cái vành mê phía sau để tránh cái nhìn của người đàn ông đang đẩy xe. Chị xốc lại quần áo và lựa một thế nằm, co mình như con tôm.
Lên gần tới đỉnh đèo, những đau thắt lấy ngang người. Và Huệ cảm thấy một cái gì vô cùng riết róng, dữ dội và thảm khốc, trong những vòng quay dưới lưng. Những vòng quay cứ xiết lấy chị, không có cách gì cựa quẫy ra được nữa. Nó là cái gì vậy? Đang giữa nư đau, Huệ không biết cái gì, cũng không nhìn thấy mà chỉ cảm nhận được qua cái âm thanh ken két lúc rộ lên, lúc như nén lại để rồi lại kêu rộ lên to hơn, não nề và riết róng hơn - của chiếc bánh gỗ to kềnh càng quay lử khử trong một cái trục cũng bằng gỗ.
Sang tới bên kia sườn đèo, Huệ nhìn qua vạt áo cánh trùm trên mặt, thấy một nền trời chiều xanh nhạt hiện ra sau một bức thành mầu xanh sậm kết bằng chỏm rừng kéo dài và cứ như đang dâng cao dần lên mãi. Từ trong khoảng cao xanh, lại chập chờn vọng xuống một thứ âm thanh vi vút, bay bổng. Lắng nghe một lát, Huệ mới nhận ra được cái tiếng sáo diều ngân nga vừa chợt nghe, chính nó vẫn là cái tiếng kêu của những vòng quay ở dưới lưng.
Quằn quại mãi trên chiếc xe cút kít như một tên tù binh vừa rơi vào bàn tay tàn bạo của một thổ dân, đến gần tối thì Huệ sinh. Đứa bé ra đời trên dọc đường, trên tay Khúng.
Một tháng sau khi đẻ thằng Dũng, Huệ nhận lời lấy Khúng với một điều kiện: Không bao giờ Khúng được hỏi chị về quãng đời về trước, cũng như bố thằng bé là ai, không được hỏi dò la về người đàn ông ấy - mà Huệ chỉ cho Khúng biết là một người rất tốt, một trí thức vào bộ đội, cho đến giờ chị vừa thương hại vừa căm giận nhưng vẫn yêu và là người quê cùng thành phố với chị.
Cái anh chàng nông dân lêu têu có đầu óc thích nổi tiếng chấp nhận các điều kiện ấy với tất cả sự thất thiệt nặng nề của một anh trai tân, để đánh đổi lấy một cô vợ rõ xinh đẹp, nhất là, một cô gái thành phố chính cống.
Hắn vênh cái mặt lên mà thách thức với cả làng: "Đi suốt mấy làng này, từ dân làm nghề biển cũng như dân trong đồng, thử hỏi có thằng nào lấy được vợ thành phố như tao - cái thằng Khúng ngất ngưởng này?" Hắn đổ hết sức ra làm như trâu, mỗi ngày một chuyến xe than lẫn gỗ súc về bán cho đám dân biển. Bằng mồ hôi của hắn, hắn đã cứu được hai mẹ con Huệ. Cả hai tưởng sẽ chết sau kỳ sinh nở: mẹ bị phù thũng và đứa con vừa sinh ra đã sài đẹn.
Cả làng chửi Khúng chẳng còn thiếu câu gì nữa. Cái thằng dám cả gan đem về cái nơi thờ thần làng một con đĩ chửa hoang hắn nhặt được ở xó rừng nào...
***
Cái lần thằng Dũng đi bán cà chua về, nó đã làm được một việc y như lão Khúng đã làm gần hai mươi năm trước đây, chính Huệ cũng không khỏi sung sướng và tự hào, khi thấy một cô gái có học thức và vốn xuất thân con nhà thành phố đã chịu theo đứa con trai đầu lòng của mình về nhà. Điều đó khiến cho Huệ cũng phải lấy làm lạ lùng, như một sự lặp lại của số phận con người.
Sáng ngày hôm sau, Loan, cô kỹ sư được Dũng và bà mẹ dẫn vào trong Khe Đá Dầu - một khu vực khai hoang thứ hai mà lão Khúng và thằng Khoan đang dựng chòi ở - để đốn cây và nhặt đá.
Lão Khúng đã bắt đầu phải tính toán về đường xa, khi mà những đứa con trai và con gái của lão phần nhiều đều đã lớn, cần hỏi vợ gả chồng, làm nhà riêng và cũng phải tìm đất cho chúng sống. Đầu óc của một người nông dân bao giờ cũng nghĩ đến cuộc đời mai sau của con cái. Chính vì lẽ thế mà cái tay chẳng lúc nào được rảnh, chẳng lúc nào ngơi mó máy trong đất.
Đất trong Khe Đá Dầu còn tốt hơn đất ở ngoài chỗ hiện đang ở - làm lão Khúng cứ mê đi, như đã nhìn thấy trước cái sự thịnh vượng của đời con cái - chỉ hiềm nỗi, lão chẳng biết có ai đem giấu cái gì bên dưới mà sét đánh luôn, hễ có giông là có sét.
Lần ấy, Loan ngủ lại thêm một tối trên chiếc chòi của gia đình Dũng dựng trong Khe Đá Dầu. Sáng ngày hôm sau, Dũng dẫn cô đi tiếp một buổi nữa mới vào đến một dãy lèn đá mà những người khai hoang thường gọi là "lèn địa chất", ở đấy, Loan trình giấy giới thiệu và nhận công tác ở một đội thăm dò địa chất. Hàng trăm công nhân và kỹ sư đã có mặt ở đấy từ những năm vùng này còn bị máy bay Mỹ đánh phá rát. Công việc thăm dò càng được ráo riết xúc tiến khoảng vài ba năm nay - ngoài các kỹ sư người trong nước còn có các kỹ sư nước ngoài.
Trong các bức thư của Th. mà Huệ vẫn trân trọng bí mật cất dưới đáy một cái chum, không có bức nào mà Th. không nói qua về công việc của anh ở Hà Nội - một công việc liên quan mật thiết và có tính quyết định đối với công việc thăm dò đang tiến hành ở đây, cả những chuyến máy bay chụp ảnh thỉnh thoảng bay qua vùng khai hoang cũng nhằm mục đích ấy.
Có thể nói rằng suốt cả đời mình, Huệ sống ở đây để chờ đợi một thành phố sẽ ra đời, không phải một thành phố buôn bán và tiêu thụ, mà là một thành phố công nghiệp của hàng vạn công nhân khai thác mỏ quặng của một thứ kim loại quý. Huệ biết rằng đến lúc đó, đời sống con người và thiên nhiên chỗ này sẽ hoàn toàn khác bây giờ, con người sẽ không còn bị bưng bít bởi sự hẻo lánh nữa và đứng ở đây, người ta có thể nhận được những tin tức của mọi nơi.
Một đời người thật ngắn ngủi, Huệ biết đời mình chưa chắc đã trông thấy mặt mũi cái thành phố tương lai được xây dựng trên vùng đất do bàn tay vợ chồng chị đang khai phá, nhưng chị tin nhất định dù sớm muộn nó phải có, nhất định một thành phố công nghiệp sẽ mọc lên trên mảnh đất hoang dã này. Những đứa con của chị chẳng phải mơ ước và đi tìm kiếm cuộc sống đô thị ở tận đâu xa, mà ở ngay trên miếng đất chúng đang đứng. Vợ chồng Huệ tổ chức đám cưới cho thằng Dũng vào tháng ba thì tháng chín người con trai đi bộ đôị. Có một lá thư của Th. - một bức thư rất quan trọng - vừa gửi về mà lão Khúng chưa được đọc. Huệ nhận được bức thư cuối cùng ấy chỉ trước ngày thằng Dũng bước chân ra đi dăm hôm và chị cứ đắn đo mãi có nên đưa cho con xem hay không? Th. báo tin cho Huệ biết anh đã được Chính phủ chỉ định làm tổng công trình sư của cái công trình công nghiệp đồ sộ sắp bắt tay xây dựng vào đầu sang năm, và nay mai anh sẽ thường xuyên có mặt ở tại thị trấn lâm nghiệp, cùng với những bộ phận đầu tiên của bộ máy điều hành của mình. Cũng như những lá thư trước nhưng lần này bằng giọng tha thiết hơn, van nài hơn, Th. xin Huệ hãy quên mọi chuyện cũ và tha thiết đề nghị được gặp Huệ và con. Dù như Huệ nói, bây giờ Huệ đã trở thành một người đàn bà khác hẳn trước kia và đứa con trai không còn là con của anh nữa, thì anh cũng tha thiết xin được gặp.
Khách cầm đứng đôi đũa son gạt hai nhát từ hai bên mép vào giữa rồi buông đũa. Chiếc bát ăn cơm đặt rìa mâm vẫn chỉ bốc lên hơi men.
- Cháu đủ!
Trong lúc chống gối đứng dậy, lão Khúng cúi xuống chiếu nhặt chiếc khăn lau mặt, chợt nhìn thấy khuôn mặt của lão và khuôn mặt Định gần như kề sát nhau, phản chiếu trong cánh cửa gương của chiếc tủ đứng.
Con người ta cùng một dòng máu mủ mà khác nhau biết chừng nào? Cái ý nghĩ như một kết luận không phải hình thành một lúc trong cái đầu óc nông dân bảo thủ đầy sắc sảo của người cháu, mà ban đầu lão thấy khuôn mặt người chú trong gương như một điều chứng thực cho một cái nhận xét bất chợt nhưng rất quan trọng của lão, trên dọc đường chiều hôm qua lão đi một mình từ ngoài ga Hàng Cỏ về nhà Định.
- Những cái anh dân thủ đô Hà Nội này - lão đạp những bước như vồ nện xuống mặt nhựa vừa gật gù nghĩ một mình - sao mà người nào cũng y như ngâm lâu ngày trong bể nước mới vớt lên? Da thịt người đâu mà cứ trắng nhợt, mà người nào người nấy cứ mềm oặt, mềm như sợi bún, từ cái ngón tay đến sợi tóc đều mềm, tiếng nói cũng mềm, dáng đi điệu đứng lại càng mềm, nhất là cái tiếng cười lại mới thật là mềm chứ?
Lão đảo mắt nhìn sang những đứa con của chú ngồi quanh mâm rồi nhìn kỹ vào một bên tai chú:
- Mự này - lão vừa nói vừa giơ tay đón lấy chiếc điếu cày mà vợ Định vừa chạy sang nhà hàng xóm mượn về - mự không biết chứ, chú Định càng về già càng giống nội cháu ngày xưa. Giống lắm cơ! Cả những sợi lông loăn xoăn từ trong lỗ tai mọc chìa ra. Ông cháu ngày xưa cũng thế, nhưng còn rậm hơn cơ!
Định ngẩng lên. Bất giác Định cũng bắt gặp cái mặt mình bên mặt người cháu - như càng làm nổi bật cái mầu nước da tai tái và rám nâu như da thuộc, với những đường nét gãy khúc đầy khắc khổ, với những khoảng lồi lõm y như những tảng đất cày đắp lên, và từ sau hàng lông mày rậm rì và cứng, lúc nào cũng chiếu ra chung quanh một cái nhìn ngang bướng và đầy ngờ vực.
Tuy chú cháu nhưng so tuổi tác, Định chỉ hơn Khúng vài tuổi. Nhưng cứ nhìn mặt, ai cũng phải nghĩ Khúng già hơn - như một bậc bề trên trong gia tộc. Ngày xưa bố Khúng - ông anh cả của Định - chẳng được học hành mấy, mười lăm tuổi đã phải ở nhà đi cày. Mà cũng nhờ thế Định mới được theo học đến thành chung. Nhưng đến đời Khúng và những đứa con của Định thì cái sự xa cách mới thực là xa cách. Quanh một cái mâm cơm gia đình mà như người từ hai thế giới họp lại.
Chao ôi, có lẽ cho đến nhắm mắt, riêng đời Định vẫn còn mắc một món nợ không bao giờ trả được, là món nợ với Khúng và bố mẹ Khúng, và nói chung, với những người thân thích, ruột rà ở làng. Làng anh, cái làng Khơi nửa biển nửa đồng, sỉa chân từ trên tàu hỏa xuống, phải đi gần chục cây số về phía biển mới thấu và chỉ có một cách cuốc bộ ấy, nó có một sức nhai người ghê gớm. Nó nghiền nát những con người ra rồi vắt nặn theo cái hình thù đã có từ nghìn đời của nó, rồi bắt những con người ấy phải sống theo cái luật cũng đã có từ nghìn đời nhưng không bao giờ viết thành văn của nó.
Hàng chục năm nay cũng như từ nghìn đời, bao nhiêu thứ giặc ngoại xâm đến đây đều bị chết gục trong cái làng quê hiền lành một mầu xanh rì ấy, nhưng cũng hàng chục năm nay, những điều biến đổi của cách mạng đến được đấy cũng mới chật vật, khó khăn làm sao? Vẫn biết rằng trong làng đã có hợp tác, đã có một khu trường cấp hai hai tầng xây trên một khu đất thoáng mát xung quanh trồng phi lao; nhà trạm xá, lại rạp chiếu bóng, một làng mà có cả một rạp chiếu bóng nằm giữa cánh đồng muối bên con đường quan. Tuy vậy, cái làng nó vẫn là cái làng, vẫn là cái làng quê thân yêu và lâu đời của Định, mà một lần ban đêm hành quân giữa rừng Trường Sơn, chỉ nghe một giọng nói người làng lên trong hàng quân đi ngược chiều, Định đã phải kêu lên một tiếng xiết bao mừng rỡ, và chính tiếng kêu của anh đã khiến một cái bóng người khoác súng từ hàng quân bên kia nhảy bổ sang với anh.
Nói gì thì nói, trong hàng chục năm nay người cháu đang ngồi trước mặt Định kia và đang xì cả nước điếu ra nhà Định kia, cũng chính là người đã gìn giữ phần mộ của bố mẹ và ông bà Định. Chứ như cái đám con của Định thì đừng hòng, chúng có học thức nhưng rất ít tình cảm họ hàng làng mạc. Mà tình cảm họ hàng làng mạc thì Định không muốn đánh mất.
Và chê trách gì thì chê trách, với bao điều có thể chê trách, Định vẫn quý và khâm phục cái người cháu. Khi Định ở trong B ra, - sáu năm sau - anh đã được nhìn thấy, thay vào cái "ổ gấu chó" là một nếp nhà gỗ rất khang trang đứng giữa một vùng đất bát ngát cứ xanh um lên, không phải mầu xanh hoang dã của rừng nữa, mà là lạc, mía, chè, mít, bầu bí, và xa xa, dưới chân đồi trước nhà là lúa, lúa đang vào chắc... và bộ đội đang mắc võng ngủ đầy nhà trên, anh nuôi nấu cơm trong chiếc chảo gang dưới bếp, trong khi ấy, những đứa con của Khúng lớn vổng lên, còn Khúng thì đã trở thành một ông già, sáu năm ở chiến trường không làm Định già nhanh đến thế.
"Chú! Vậy mà mấy lần cháu nằm mơ thấy... chú chết!" tình máu mủ khiến Khúng mừng rỡ cứ cuống quít cả lên khi tận mắt trông thấy Định từ trong Nam đã trở ra thực.
***
Định đi sau ông cháu. Định phải trực tiếp sắm vai kẻ hướng dẫn mua bán cho Khúng - y như một vài lần anh phải hướng dẫn khách nước ngoài.
Khốn khổ, công việc này đáng lý Định có thể giao cho lũ con, nhưng Định thấy dù một đứa nào chu đáo đến đâu cũng sẽ để xảy ra sơ xuất, trong cái công việc hướng dẫn Khúng đi thăm thú các thắng cảnh và mua sắm. Cả đời người cháu ruột của Định mới ra chơi Hà Nội, Định không thể để sơ suất, xuất phát từ một tình cảm sâu nặng và cả sự kính trọng của Định đối với người cháu tộc trưởng.
Từ sáng tới giờ Định đã đưa ông cháu đi dạo qua một số di tích và thắng cảnh của thủ đô, nhưng xem chừng vị khách quý chỉ thích ngắm nương ruộng, gia súc, những cái suốt đời chung sống với lão! Đặc biệt trong khi đứng trước Bờ Hồ, lão đã phát biểu cảm tưởng một cách thực thà. Rằng so với bức tranh treo ở vách nhà lão thì cái tháp Rùa thật không giống cái tháp Rùa vẽ ở nhà lão!
Nhưng chỉ khi đến trước cửa chợ Đồng Xuân thì lão Khúng mới cảm thấy thực sự đã đến Hà Nội. Lão tủm tỉm cười một mình trong khi liếc qua một đám con gái mặt hoa da phấn, nhưng cái chúng đang xách trên tay thì vẫn là cái quá tầm thường: hũ nước mắm dúm muốn, mớ rau, con cá... Thì hóa ra cái đám người ẻo lả như ngọn cỏ may này cũng không phải chỉ đi dạo, mà cũng phải ăn uống. "Ấy, ai sinh ra cái ông trời kể cũng tài thực - lão Khúng vẫn tủm tỉm cười và bất giác nghĩ - Ông trời làm ra con người "bách nhân bách tính" nhưng ông trời lại khéo cho con người một cái nết mà ai cũng phải có: Đó là cái việc ăn. Hóa ra cái anh dân Hà Nội này cũng phải ăn. Cho nên mới sinh ra cái chợ Đồng Xuân này to như thế!".
Hai tai lão chẳng mấy chốc đã ù đặc vì tiếng ồn. Mắt lão cũng hoa lên vì trăm thứ hàng hóa chất đống. Đã từng leo hết quả núi này đến quả núi khác, vậy mà mới loanh quanh trong chợ, cặp giò như hai cái trục bánh xe của lão đã mỏi là sao?
Để tránh khỏi mất cắp, Định bắt Khúng trao gói tiền cho mình giữ. Mua thứ gì, anh tự đếm tiền trả. Mà những thứ ông cháu muốn mua thì nhiều lắm. Cái gì Khúng trông thấy, là thấy ở nhà mình cần. Mà cái gì cũng rẻ hơn ở nhà một giá. Thế mà nào lão có biết? Suốt đời lão chỉ chúi mũi vào hòn đất.
Khi bước ra trước vòm cuốn cửa chợ, hai chú cháu nhà ấy đã y như hai nhà phi công vũ trụ. Thế mà vẫn thấy còn một đám người chạy theo dúi vào tận ngực họ đủ mọi thứ khiến lão Khúng cứ đứng cười ngất.
Chỉ trong một ngày lão đã khuân về bày lủng ngủng khắp gian nhà "hẹp bằng cái lỗ mũi" của ông chú nào vành, khung và lốp xe đạp, xanh, nồi, hàng mấy yến hành làm giống, hạt cà chua và hạt bắp cải giống, và quần áo cho đứa lớn, đứa bé, cho vợ...
Nhưng đấy cũng chỉ là mấy thứ vặt. Trong chuyến đi ra thủ đô lần này lão đã rắp tâm từ ở nhà một ý đồ lớn hơn nhiều. Lão sẽ tập trung tiền mua một bộ trục, vành và xăm lốp ô tô, để "lên" một cỗ xe trâu! Việc này lão đã viết thư cho Định biết từ năm ngoái: Nhà lão phải tiến lên vứt bỏ chiếc xe cút kít. Nó là thứ phương tiện chuyên chở quá cổ lỗ, mà tốn sức! Loài người đã bước sang "thời đại tên lửa" rồi cho nên sau chuyến đi này, nhất định gia đình lão phải có một cỗ xe trâu để chở đá trong Khe Đá Dầu này, chở lúa thóc ra chở phân gio vào trong ấy này, rồi chở gỗ lạt trong rừng ra, hoặc cũng có thể những ngày giỗ tết cả nhà lão leo lên ngồi trong cái thùng xe để về quê...
- Đừng chế nhạo anh, các em ạ! - Lão nói với lũ con ông chú đang vừa cười nhăn nhở vừa giễu cợt lão - Các em đã từng biết cái tiện lợi của ô tô và tàu bay so với chiếc xe đạp, vậy như anh, suốt đời đẩy xe cút kít, thì một chiếc xe bánh lốp có ổ bi với con trâu kéo, đã là ô tô, tàu bay rồi đấy!
Ba bốn ngày sau, cả mấy bố con Định tỏa ra lùng sục khắp các phố ngóc ngách của Hà Nội. Họ tìm được đầy đủ một bộ đồ để "lên" một cỗ xe trâu, nhưng khi đến giá cả, thì mới thấy là cả một số tiền lớn. Không phải một lúc mà Khúng có thể dứt ra khỏi nương ruộng để đi Hà Nội - Định nghĩ thế cho nên anh bàn với vợ bán chiếc đài cùng vài thứ lặt vặt, đập vào số tiền mua sắm còn lại của Khúng, góp phần "đầu tư vào cuộc cách mạng kỹ thuật" trong nền sản xuất của gia đình người cháu ở trong quê.
***
Vào một buổi chiều ngày chủ nhật, trước khi ra tàu hỏa để trở về, Khúng nói với Định:
- Cháu phải tranh thủ đi đến nơi này...
- Ừ, ừ để chú đưa đi ngay! - Định đáp.
Khúng nói rằng mình cần phải đi đến "cái nơi này" một mình. Lão mượn bộ quần áo đại cán của Định, mặc vào. Nhưng vừa đi ra đến cửa lão đã quay lại, cởi giả bộ quần áo đại cán cho Định. Vẫn đánh cái bộ quần áo vải thô nhuộm nâu, đi ra ngoài phố được một quãng, lão gọi một chiếc xích lô bảo đưa đến một cái địa chỉ trong thành phố. Đấy là một cái địa chỉ với những con số lẫn hàng chữ viết trên đầu phong bì của những lá thư giấy pơ-luya, trong nhiều năm nay vẫn xếp chồng lên nhau dưới đáy một cái chum.
Đến lúc này, lão Khúng đã quyết định xé bỏ cái thỏa ước đã ký với vợ hai mươi năm trước.
Người xích lô đổ lão xuống trước một ngôi nhà sáu tầng mái bằng ở đầu hồi có chữ B4. Có lẽ đến gần một tiếng đồng hồ, lão Khúng cứ quanh quẩn chung quanh giải bờ hè chân tường, rảo bước đi vòng quanh ngôi nhà hết vòng này đến vòng khác đến mỏi rũ cả chân: " Rõ nhà với cửa, cứ y như một cái hộp sắt tây đậy kín mít, nghe bên trong nhạc xập xình như có đám cưới, lại thấy các tầng quần áo đang phơi, lại thấy cả những cái mặt người ló ra y như một lũ chim bồ câu đang gù trong cái chuồng: có người ở chứ không phải nhà đi vắng hết, vậy mà tìm mãi vẫn chẳng thấy cổng ngõ ở đâu cả!".
Lão lại tốn một tiếng đồng hồ nữa để đi lạc lung tung ở bên trong, hết leo lên tầng thượng đỉnh lại lộn xuống tầng dưới cùng, rồi lại được chỉ dẫn phải leo lên... " Ừ cũng lạ, sống như thế này mà cũng sống được, chẳng có vườn tược, chẳng cây cối, ăn, ở chồng chất lên đầu nhau, chỉ thấy tường và tường, chả trách người nào người nấy cứ trắng nhợt, nói khẽ, cười khẽ, đi khẽ, là phải!...".
Lão đã bắt đầu ngột thở, khi đứng trước cửa gian phòng đang định tìm. Mới đặt một bàn chân lên tấm cói chùi chân, lão đã chợt nhìn thấy thằng Dũng nhà mình - đến hôm nay đã ăn mặc quần áo bộ đội đang ngồi trong nhà.
Lão sửng sốt, rụng rời cả chân tay.
Có lẽ thằng Dũng cũng như lão, lần đầu tiên đến đây và cũng vừa chợt đến.
Thằng con lão không kịp trông thấy lão, bởi ngay sau đó, tức tốc lão đã quay lưng lại và bổ nhào xuống cầu thang.
Từ bấy giờ cho đến tối, lão đi lạc lung tung trong thành phố. Những bức tường chi chít và những ngõ phố khúc khuỷu như đang bày trò chơi ú tim với lão, chế nhạo lão. Đèn trong các lùm cây và trong các gian nhà đã bật sáng, mà lão vẫn không sao tìm được lối về. Toàn thân lão run lẩy bẩy như người lên cơn sốt và trong tâm hồn lão tự nhiên dâng lên một nỗi niềm cô độc, lão lẩm bẩm gọi tên từng đứa con. Lão cầu xin đàn con đừng bỏ lão mà đi, mà hãy ở lại với lão, hãy ở lại với đất cát.
Mười giờ đêm lão mới tìm về đến nhà người chú giữa lúc cả nhà đã tỏa đi tìm các ngả.
Lão nhất định không kể lại cho Định biết một điều gì. Mặc dầu Định quyết giữ lại ở thêm một ngày nhưng lão Khúng vẫn một mực xin phép vợ chồng ông chú được về.
Lão vội vã gói buộc đồ đạc ra tàu.
Quá nửa đêm, tàu mới bắt đầu lăn bánh.
Khi những luồng gió không có gì cản trở, tự nhiên thổi lồng lên trên nóc và hai bên cửa sổ toa tàu hỏa, trong đêm lão Khúng nhận ra luồng gió man dại quen thuộc, và biết mình đã ra khỏi thành phố, đang trở về với đất cát hồn nhiên và hoang dã...
Mẹ con chị Hằng
Chị Hằng che bớt ngọn đèn khỏi hắt ánh sáng vào giường, rồi ghé lại bên bức vách:
- Chị Thanh ơi!
- Hằng đi đấy hả?
- Được rồi, cứ để đấy. Anh Ca đi mạnh khoẻ nhé!
Tiếng trả lời từ ngoài sân:
- Vâng. Chị ở lại mạnh khoẻ ạ!
Hằng ôm cái ba lô cóc ra ngoài sân, thì Ca đã men theo cánh cửa phía sau lưng vợ, trở vào nhà. Ngọn đèn mới được chia tấm bìa lịch nên ánh sáng trên giường trở nên lờ mờ. Ca nhìn thằng Hùng lần cuối cùng. Thằng bé vẫn ngủ say. Dưới làn chăn bông hoa rất dầy, chỉ thấy một cái đầu tóc bờm xờm và nửa cái trán bướng bỉnh thò ra ngoài mép chăn.
Ngoài sân gió rét căn cắt nhưng Hằng cứ tưởng không phải là mình đang đứng giữa gió rét mà chính là anh Ca. Cho nên chị lại càng trân trọng cái phút này, chị hình dung thấy trong kia anh Ca đang đứng nhìn thằng Hùng đăm đăm, và tất cả mọi cái gì xảy ra ở đây lúc này sẽ mãi mãi được ghi trong trí nhớ của chồng.
- Chị Thanh ạ, tiếng anh Ca rụt rè, sắp tới khi nào Hằng nó trở dạ, nhờ chị giúp đỡ.
- Anh cứ yên tâm.
- Dạ, với lại khi nào bà cụ nhà tôi trong Thanh ra, chị nhớ giúp đỡ ý kiến với nhà tôi. Tính Hằng nó không biết chiều bà
- Anh đừng lo. Kỳ này bà ra, thế nào bà cũng ở lâu
Ra khỏi cổng cái bệnh viện, con đường đá sụt lở và ghồ ghề đến nỗi trong đêm, Hằng chỉ dám đi rón rén chỉ sợ ảnh hưởng đến cái thai. Ca dắt xe đạp cũng đi thật chậm để cho Hằng tạm đặt chiếc balô con cóc trên boóc-ba-ga và chị có thể vừa đi bên cạnh đỡ lấy. Nhưng khi ra đến đường nhựa thì hai vợ chồng đã có thể đèo nhau được rồi.
Hằng ôm chiếc ba lô con cóc trước cái bụng chửa ngồi trên boóc-ba-ga đang xoay xoả để lựa một tư thế thoải mái thì Ca đã lên tiếng, vẫn những điều cũ kỹ không biết anh đã dặn đi dặn lại bao nhiêu lần:
- Khi nào bận bịu công việc em đừng cáu gắt với thằng Hùng, nhất là đừng bao giờ đánh nó. Em nghe đấy chứ?
- Em nhớ rồi.
- Cuối tháng sau, bà sẽ ra. Trên đường đi, anh sẽ dừng đánh thêm một bức điện nữa. Lần này bà ở với mẹ con được ba bốn tháng, ra đến ngoài giêng thì hay lắm.
- Bà ở được vài tháng đã khó lắm.
- Em khéo chiều thì bà ở được lâu hơn, chứ như lần trước em sinh thằng Hùng
- Hồi ấy em cũng rất chiều bà.
- Nhưng em nhớ đừng có bao giờ cáu gắt với bà.
- Anh cứ yên tâm. Lần này em sẽ không cáu gắt
Chị Hằng tiễn chân anh Ca tới trạm xe giao liên đầu tiên ở tận một vùng ngoại ô phía Nam. Chia tay chồng vội vã, chị đạp xe về đến nhà lúc trời vẫn chưa sáng. Gian phòng vẫn y nguyên: một tấm màn trắng buông rủ thẳng thắn. Chiếc ri-đô hoa. Chiếc chạn bát do chính tay anh Ca đóng Chị vạch lá màn. Thằng Hùng đã đạp hết chăn nằm phơi nửa người ra ngoài. Chị đắp lại cho con rồi chui vào chăn nằm với con. Tội nghiệp bố mày, chắc bây giờ vẫn đang ngồi đợi xe giữa trời rét. Chị lẩm bẩm rồi lắng nghe những tiếng gió lùa hun hút qua kẽ vách nứa. Rồi chị bỗng thấy trong bụng đau quặn lên. Cái thai lại đạp. Cũng chỉ còn hơn một tháng nữa chị đã sinh. Chẳng biết lần này con trai hay con gái. Chị ao ước một đứa con gái. Chị chợt nghĩ đến bà mẹ ở trong Thanh sắp ra ở với mình, bà mẹ hiền lành và cũ kỹ của chị. Chao ôi, đến bây giờ chị Hằng mới sực nhớ ra mình vẫn có một bà mẹ. Hình như trong những lúc quạnh vắng lại sắp sinh nở như thế này mới sực nghĩ đến mẹ, bà mẹ của chị đang ở trong nhà quê
Thế là bà cụ Huân đã ra ở với chị Hằng được mươi hôm. Chị vẫn đi làm. Trong thời gian chờ con gái sinh nở, bà cụ ở nhà với thằng Hùng, trông nom cháu. Thằng bé lên ba tuổi rưỡi. Cả bố lẫn mẹ đều đẹp vậy mà thằng bé lại xấu, Nhưng điều đó không quan trọng bằng cái việc nó đã bị cả dãy nhà lá của khu tập thể này liệt vào loại đứa trẻ không ngoan. Tuy không nói ra nhưng mọi người đều nghĩ rằng thằng bé ít ngoan cũng phải, nhất là bố nó, anh Ca, nâng niu chiều chuộng nó quá mức. Thật thế, cả bố lẫn mẹ nó đều là những người thầy thuốc vậy mà hai hàm răng thằng bé đều cáu đen lại, bị sâu hết chiếc răng này đến chiếc răng khác. Có gì đâu, suốt ngày nó vòi kẹo, lúc vòi bố, lúc vòi mẹ. Bố thương hơn, bố cho ngay. Còn mẹ, cũng có lúc không cho thì nó nói ngay: "Con đĩ mẹ"!. Mẹ không mắng. Bố cũng bỏ qua. Vợ chồng chị Hằng được cái nết tốt là chẳng bao giờ mắng con, trong lúc những nhà chung quanh, có khi mắng chửi con còn chẳng thiếu điều gì nữa, lại còn đánh con như đòn kẻ cướp. Thằng bé Hùng càng trở nên hư từ khi anh Ca được nghỉ phép ở nhà một tháng trước khi đi B. Những năm ở chiến trường anh Ca mới chịu học nấu nướng chứ trước kia vợ anh nấu cho gì ăn nấy. Trong một tháng nghỉ phép ở nhà, anh đã đem ra thi thố cái tài vặt ấy của người đàn ông. Những lúc nghỉ giữa giờ làm việc, chị Hằng vẫn mặc chiếc áo trắng tạt về nhà, không thấy anh Ca đi chợ thì lại thấy anh hí húi nấu nướng và chị lấy làm cảm kích đã gọi đùa anh là "bác bếp". Kết quả là, chị Hằng béo đẫy ra. Còn thằng Hùng thì thật là quá thể - Con ăn gì Hùng - Con ăn xôi! Người bố chạy đi vo nếp nấu xôi đơm ra đĩa nhưng ông con bấy giờ lại tuyên bố: - Con không ăn xôi, con ăn phở cơ! Thế là ông bố sắp đi xa nghĩ rằng mình chẳng còn có bao thời gian được ở với con nữa, liền dắt xe đạp ra phố mua phở. Nhưng phở mua về thì nó cũng không ăn. Vậy thì con ăn gì Hùng? - Con ăn kẹo cơ.
Từ hôm có bà ra, thì thằng Hùng lại hành hạ bà nó. Mới ra ở được mươi hôm, con gái ra đẻ, mà bà cụ tưởng đã chết mệt đi vì thằng Hùng. Nó bắt bà cõng. Nó bắt bà rượt bắt cho kỳ được con mèo, con chuột. Chiếc kèn bố nó mua cho hồi Tết Trung thu - chiếc kèn đã làm khổ tai bao nhà hàng xóm - lâu nay vất trong xó gậm giường. Nó bắt bà nó chui vào lấy ra. Rồi nó bắt bà thổi kèn cho nó nghe. Bà nó thổi nhiều quá đã phát mệt không thổi được nữa thì nó nói luôn: "Con đĩ bà".
- Chao trời, Hằng, tề!
Chị Hằng cũng thấy xấu hổ với mẹ. Chị nổi giận đi kiếm cái que định vác đứa con ra nện cho một trận nhưng lại nghĩ từ hôm ra đi, anh Ca đã gửi về hai lá thư, thư nào cũng khẩn khoản dặn chị hãy thay anh mà yêu gấp đôi, bất cứ lúc nào cũng không nên mắng mỏ, đánh đập nó, tội nghiệp.
- Chao trời, Hùng, mày ăn nói với bà thế à?
Chị Hằng chỉ kêu lên một tiếng như vậy, rồi buông que, nghĩ ngay tới công việc khác.
Đêm nào bà cụ Huân với chị Hằng, hai mẹ con cũng nằm rủ rỉ tâm sự với nhau đủ mọi chuyện, hết kể chuyện gần lại chuyện xa, hết chuyện làng xóm, họ mạc trong quê lại đến chuyện nhà cửa. Có một lần hai mẹ con đang trò chuyện vui vẻ thì chị Hằng bỗng nổi giận:
- Hai chiếc áo len của con để ở nhà làm sao chúng nó lại dám lấy đem đi là thế nào nhỉ? Mà tại sao mẹ lại để chúng nó lấy đem đi?
- Thì tau có biết chi! Bữa đó Quyền về lấy đi một chiếc. Chỉ còn một chiếc. Tau đem phơi đã đã cất kín trong giương. Con Gio về lục giương lấy đi nốt.
- Cái gì con gửi mẹ thì mẹ phải biết giữ cho con chứ?
- Thì tau có biết chi mô.
- Mẹ không biết chứ, hai chiếc áo len ấy anh Ca sắm cho con từ hơn chục năm nay. Con Quyền đi lấy chồng mẹ cho nó đủ thứ, con Gio cũng vậy. Còn con, mẹ đã cho con gì đâu? Bản thân anh Ca, hết sắm sanh cho con lại cho thằng Hùng, chứ có bao giờ anh ấy sắm sanh cái gì vào người mình đâu? Người đâu mà có người lẩm cẩm thế cơ chứ! Cho đến lần đi B vừa rồi mới mua được một cái áo len theo giá của quân nhu. Lại còn định để ở nhà. Con phải nổi cáu, bắt mặc vào người, thì mới chịu mặc. Con Quyền, con Gio chúng nó cứ tưởng vợ chồng chị Hằng ở Hà Nội giàu sang phú quý lắm cơ đấy, cho nên chúng nó mới dám tự tiện thế? Cả mẹ nữa, mẹ cũng tưởng gia đình vợ chồng con cái thừa thãi, cho nên mới để cho chúng nó lấy của con mang đi?
- Thì tau có biết chi.
- Thế thì con cho chúng nó biết. Hai đứa nó không sớm mang về đây giả, thì con bửa xác chúng nó ra.
Nữ bác sĩ Thanh đi làm về, áo công tác chưa kịp cởi đã vội vàng chạy sang:
- Nào, cho cô xem mặt cháu gái yêu nào?
Chị Hằng đang nằm bên một cái bọc vỏ chăn hoa cũng vội nhổm dậy:
- Đó chị Thanh, cháu giống ai?
- Khuôn mặt sữa của trẻ con thay đổi luôn ấy mà! Nhưng mà trông nó giống Hằng lắm.
- Không nó giống anh Ca đấy chị ạ, xấu, con gái lại đi giống bố.
- Nó giống Hằng hơn.
- Không, nó giống anh Ca đấy chị ạ, cả mấy ngón tay cũng giống tay anh Ca.
- Chị nhìn kỹ xem đây này, con mắt, cái trán, cái sống mũi, có phải y như thằng Hùng không nào? Mà thằng Hùng lại giống bố nó y như tạc ấy chứ? Chị thử quay lại ngắm thằng Hùng xem?
- Sao Hằng về sớm thế, mới ba hôm đã về?
- Sốt ruột quá, sốt ruột với cái thằng Hùng ở nhà. Cứ thương nó ở nhà một mình.
- Đã có bà, sợ gì?
- Vẫn biết thế, nhưng đêm nào nó cũng ngủ với em, nó đã quen. Bây giờ, hai ba đêm liền, không có mẹ ở nhà Em cứ lo, mà nhớ nó phát khiếp lên được!
Mọi người trong khu tập thể đến thăm, ai cũng khen vợ chồng chị Hằng khéo "đúc". Một trai, một gái. Có thể "kế hoạch" được rồi.
Chị Hằng cũng lấy làm thoả mãn lắm. Mấy hôm nay chị đã nhờ cậu phụ trách máy điện thoại cơ quan gọi qua đường dây "tải ba" vào tận trong B báo tin mừng cho anh Ca biết. Rồi một hôm, con Lan - đứa bé mới sinh - đang ngủ và chị Hằng nằm nghiêng bên cạnh lần lượt sờ mó từng cái ngón tay bé xíu của nó thì cậu phụ trách máy điện thoại xô cửa bước vào.
- Chị Hằng sang nói chuyện với anh Ca ngay bây giờ.
- Gọi được rồi hả em?
- Ai?
- Anh Ca.
- Bây giờ anh ấy đang ở đâu?
- Đang chờ chị ở máy điện thoại.
Chị Hằng gần như rên rỉ:
- Bà ơi, bà trông cháu hộ con.
Bà cụ Huân kêu thét lên khi thấy con gái đầu không kịp trùm khăn, bước đánh thịch xuống giường xô cửa chạy ra khỏi nhà.
- Mới sinh mấy hôm mà mi dám cử động mạnh rứa hử Hằng?
Hằng đặt một tay lên ngực để nín thở, bàn tay kia vồ lấy cái ống nghe.
- Anh Ca đâu?
- Anh đây - Đầu dây bên kia, tận nơi tít mù xa, tiếng anh Ca cất lên.
- Anh đã nhiễm sốt rét rồi hả?
- Không việc gì.
- Chắc ban đêm anh phải làm việc nhiều?
- Nhiều. Tình hình chiến trường khẩn trương lắm.
Sau khi người ta cắt để lấy đường dây làm việc, chị Hằng không nhớ mình đã nói với chồng được những gì, chỉ biết rằng thời giờ được nói chuyện quá ít ỏi.
Chị trở về gần đến nhà chợt nghe tiếng con Lan khóc ngăn ngắt. Sao nó lại khóc thế nhỉ?
Chị bước vào thấy mẹ đang bế cháu ngồi khóc.
- Sao thế hả mẹ?
- Thì tau có biết chi mô, hắn chạy vô hắn gọi em, rứa là bất ngờ hắn thụi cho con bé một cái.
Chị Hằng giận dữ giằng lấy con từ trên tay mẹ: - Lúc nào mẹ cũng "tau có biết chi mô?" - Miệng nói, tay chị vạch tay chân mình mẩy đứa trẻ sơ sinh xem có gãy xương hay chảy máu ở đâu không.
Bà cụ sau đó lại thấy con gái quay ngoắt lưng lại phía mình thì vội vã len lén bước xuống bếp, miệng lẩm bẩm: "Bất thình lình hắn chạy vô em thì tau có biết chi mô?". Chị Hằng quát lớn:
- Hùng mày vào đây để mẹ hỏi tội!
Thằng bé không những không vào mà còn đứng dạng chân ra, giơ cái nắm đấm dư dứ về phía con bé em. Rồi lại còn nhe răng, trợn mắt, để nhát mẹ nó. Chị Hằng bật cười, lại càng thương thằng Hùng hơn. Từ hôm chị bế con bé Lan về, nó ít được chị vuốt ve, chăm sóc. Cho nên nó hay ghen với em. Cũng may, con bé chỉ đau, chứ không gãy xương hay chảy máu.
Trông thấy thằng con trai quý dở khôn dở dại vẫn đứng nhát mình ngoài cửa, chị Hằng nói:
- Răng của mày hồi này có vẻ lại càng đen đấy, lại đây mẹ xem thử nào?
Thằng bé đi đến. Chị bế nó lên. Một tay bế con Lan. Một tay bế thằng Hùng.
- Từ nay con phải biết thương em, không được thụi em.
- Cứ thụi.
- Vậy thì con không ngoan rồi. Con có thương mẹ không?
- Không.
- Thằng đầu bò. Con há miệng để mẹ nhìn kỹ xem răng nào?
Thằng bé lấy hai ngón tay vạch hai khoé miệng và đuôi mắt ra.
Chị Hằng âu yếm lấy tay xoa đầu nó và lại cười:
- Trông mày phát khiếp, y như sắp ăn thịt mẹ ấy.
- Mẹ gãi đầu cho con mau lên.
- Ở đâu?
- Ở đây này. Đây cơ. Không đây mà!
- Trong lúc cong những ngón tay gãi lưng cho con trai. Chị Hằng chợt hối hận rằng ban nãy thì thương con Lan quá đã trót cáu gắt với mẹ. Trước khi ra đi, anh Ca đã chẳng dặn lại không được cáu gắt mà phải chiều bà đó ư. Sự hối hận như cái bong bóng trời mưa, lập tức vỡ tan đi ngay, khi chị Hằng cúi xuống ngắm gương mặt đứa con gái. Con bé mới kháu khỉnh làm sao chứ! Nó đang nằm trên cánh tay chị, cả thân người đứa bé cùng làn tã lót bọc ngoài cũng chỉ vừa đủ một nửa cánh tay ôm, cả khuôn mặt sữa lấp sau cái bầu vú của chị, trên nhìn xuống chỉ thấy hai con mắt nhắm như đang ngủ và cái má bé xíu, đỏ hỏn, nở ra hóp vào, và cái bầu vú nặng trịch của chị mỗi lúc một nhẹ đi. Rồi chị Hằng chợt cười một mình, nghĩ đến lúc mình chỉ bé bằng con bé Lan này. Tuy chị Hằng đã một lần nuôi thằng Hùng nhưng mấy bữa nay, mỗi lần bế con bé Lan trên tay, chị vẫn thấy ngại, y như phải sắp bắt đầu đi một chặng đường dài, rất dài. Chao ôi, bao giờ thì nó mới biết lẫy, đến bao giờ thì lững chững từng bước, biết gọi bập bẹ "mẹ, mẹ", đến bao giờ biết múa hát, đùa nghịch, làm nũng. Đến bao giờ nó mới biết nhát mẹ, thụi em và biết nói lếu láo "con đĩ mẹ" như cái thằng Hùng đầu bò đầu bướu kia? Ngày bằng tuổi thằng Hùng bây giờ, chị Hằng nổi tiếng là một đứa bé hay nhõng nhẽo, làm nũng mẹ. Cái tính ấy vừa là nết chung của trẻ con lại là tính riêng của chị, thậm chí đến bây giờ chị Hằng vẫn chưa bỏ được cái tính nhõng nhẽo, thích làm nũng và bắt nạt mẹ.
- Mẹ ơi!
Bà cụ Huân đang lúi húi thổi niêu cơm nếp ở dưới bếp thì nghe con gái gọi vọng bằng cái giọng nũng nịu mà bà đã hết sức quen. Tội nghiệp, bà cụ vẫn cứ tưởng đang bị con gái giận cho nên cứ ngồi dưới bếp, không dám lên nhà trên.
Bà cụ hí hửng, luýnh quýnh chạy lên.
- Mẹ ơi, con Lan nó chẳng sao cả.
- Thì tau đã coi, có mần răng mô.
- Mà tại sao nó bé xíu như con chuột nhắt thế này mẹ nhỉ?
- Cha mi - bà cụ cười móm mém - Vừa lọt lòng ra mới được có mấy ngày.
- Ngại quá đi mất. Không biết nuôi đến bao giờ nó mới nhớn kia chứ.
- Khắc nuôi khắc lớn. Con người rứa đó. Ngoảnh đi ngoảnh lại đã chạy đi nhởn khắp xóm, kêu rát cổ không chịu về bây giờ.
- Mẹ ơi, cơm nếp chín chưa?
- Mi đói rồi hử?
- Chưa. Mẹ lại gần đây. Mẹ ngồi xuống đây với con một tẹo nào.
Bà cụ ngồi xuống bên đứa con gái. Chị Hằng ủ con bé Lan xuống giường rồi ngả hẳn vào trong lòng bà cụ Huân.
- Mẹ gãi sau lưng cho con. Đấy, chỗ đấy. Không. Xích lên một tí. Mẹ gãi mạnh vào. Được rồi.
Bà cụ định đứng dậy thì chị Hằng đã lại bảo:
- Mẹ lấy cái lược chải hộ tóc cho con. Đầu con dạo này y như cái tổ quạ, mà ngứa vô kể.
- Vừa ở cữ dậy. Kiêng chải đầu đó Hằng à.
- Thì mẹ lấy móng tay cào trong da đầu cho con vậy.
Bà cụ lại chiều đứa con gái từ nhỏ đã được bà chiều chuộng nhất trong mấy đứa con gái, lấy ngón tay cào lên chỗ chân tóc của mái tóc uốn. Mười ngón tay của bà cụ chạm đến đâu, chị Hằng suýt xoa kêu đỡ ngứa đến đó. Chị làm tình làm tội, bắt mẹ hầu hạ, chiều chuộng mãi cho đến lúc chị hô lên một tiếng "được rồi!".
- Chao ôi, cơm nếp! - Chị Hằng lại kêu lên như cháy nhà - Phần sống, phần khê, phần thì nhão. Thật khổ. Đến nấu miếng ăn vào miệng mẹ cũng không biết nấu.
- Tao nỏ biết thổi cơm bằng bếp dầu mô.
- Cái gì mẹ cũng kêu nỏ biết, nỏ biết. Đến những người đàn ông người ta còn biết nấu miếng ăn cho ngon lành cơ mà. Từ nay trở đi, mẹ cứ ngồi bế cháu, con nấu nướng, làm lụng lấy.
Thời gian đầu khi bà cụ mới trong Thanh ra, chị Hằng con nói năng nhẹ nhõm, hoà nhã vui vẻ, nhưng lòng độ lượng của chị cũng chỉ có thể có mức độ, dù rằng đối với một người mẹ. Khốn một nỗi là bà cụ vụng quá cơ. Người đâu mà có người vụng đến thế cơ chứ. Mà còn luộm thuộm nữa. Giặt cái áo cho thằng Hùng vẫn còn đầy ghét. Giặt cái tã cho con Lan cũng vậy. Nấu miếng gì cho mình cũng vậy, không sống sít thì khê nặc, ngửi cũng thấy chứ không nói bỏ vào miệng. Hơn nữa, nhà cửa lúc nào cũng để bừa bộn. Mà lại còn bảo thủ, làm sai bảo lại còn không chịu tiếp thu. Bảo ban cái gì cũng "nỏ biết chi mô" thì làm sao mà bổ khuyết cho lần sau được.
Vậy thì làm sao chị Hằng khỏi khỏi cáu gắt được?
Vậy là, dần dần y như lần trước bà cụ Huân ra để giúp đỡ chị hồi sinh thằng Hùng, lần này chị Hằng lại sinh ra hay to tiếng, hay cau có với bà cụ. Cái vạch ngăn cách giữa tính nhõng nhẽo, làm nũng và hay bắt nạt mẹ của một đứa con gái và thói quen tỏ ra uy quyền của một người đàn bà chủ nhà thật là mơ hồ, rất khó nhận thấy, đến nỗi người ta thường dễ lẫn lộn, thường dễ tự lừa dối và tự lừa phỉnh mình.
Bà cụ Huân ở với chị Hằng chưa đầy một tháng thì chị Quyền, người con gái thứ hai lấy chồng Hồng Quảng đã đánh vào cho bà cụ một bức điện khẩn chỉ vẻn vẹn có ba chữ: "Mẹ ra gấp!".
Lúc đó chị Hằng đang ngồi quấn tã cho con Lan thì nghe tiéng thằng Hùng réo từ ngoài cửa:
- Mẹ ơi, bố đánh điện về!
Ban đầu chị Hằng lại tưởng anh Ca lại gọi điện thoại theo đường dây tải ba như lần trước nên đã gọi mẹ lên trông cháu nhưng thằng bé đã chìa ra trước mặt chị một mảnh giấy màu xám. Chị vồ lấy bóc ra, hai bàn tay cứ run bắn lên.
Rồi chị thở đánh phào một cái, tuy vậy nét mặt mỗi lúc một trở nên lo lắng. Chị kẹp tờ giấy xám giữa hai ngón tay, nói với bà cụ Huân lúc ấy đang luýnh quýnh bế lấy con bé Lan:
- Mẹ ơi, chẳng biết có việc gì mà con Quyền nó đánh điện vào. Nó có việc gì cần gọi mẹ ra gấp với nó.
Bà cụ Huân vừa thoạt nghe đã rụng rời cả chân tay. Tuy là em nhưng con Quyền lấy chồng trước con Hằng. Nó đông con, những năm đứa con, cho nên cũng túng hơn, nhà cửa lại còn chật chội hơn. Bà cụ Huân ngồi ở đấy, lấy làm sốt ruột lắm. Nó ốm? Chồng nó bị tai nạn sập lò? Hay là con cái nó ra sao? Bà cụ hầu như không nghĩ đến điều vô cùng nhiêu khê, khó khăn trên đường đi ra tận ngoài đó. Mà chỉ còn nghĩ đến đứa con, con Quyền, cái núm ruột ở cách xa bà nhất, phải đi qua một cái biển bằng tàu thuỷ mới thấu. Giá mà ở nhà ra đi thì thế nào bà cũng bắt ông dỡ mấy gốc khoai sọ hay đong mấy cân nếp, cân đỗ đỏ mang đi. Bà cụ nhẩm tính số tiền ở nhà mang ra vẫn gói trong bao tượng. Có lẽ chỉ còn ba chục. Nhà con Quyền ngày thường đã thiếu túng, lúc này chắc càng túng. Hay là mình hỏi vay con Hằng mấy chục nữa? Nhưng bà sợ làm phiền con Hằng. Nó vừa sinh, cũng cần tiền để bồi dưỡng tiêu pha.
Nhưng chị Hằng đã đưa thêm cho mẹ ba chục. Chị gửi mua mấy gói bánh, gói kẹo để chị Hằng mang đi làm quà cho mấy đứa cháu ở ngoài đó. Chị cũng đang sốt ruột và lo cho con em ruột mình lắm.
- Chẳng biết đã xảy ra chuyện gì? - Chị vừa sửa soạn cho mẹ đi vừa cằn nhằn - Tại sao không thể đánh thêm mấy chữ? Tiết kiệm không phải lối. Chỉ tốn thêm mấy hào chứ là mấy?
- Hay là cô Quyền lại sinh. Lại cần có cụ ra ở ngoài đó? - Chị Thanh, người hàng xóm hỏi qua bức vách.
- Cũng có thể, chị ạ. Lâu lắm nó không vào. Mà cũng không viết thư cho tôi - Chị Hằng trả lời chị hàng xóm xong lại quay sang nói với mẹ - Nhưng mẹ cũng cần phải biết, tính con Quyền cũng hay cá nhân lắm. Mẹ không nhớ rằng mấy năm trước đây, nó vẫn cứ nằng nặc đòi mẹ ra ở hẳn ngoài đó trông bầy con cho nó đấy ư? Nó muốn chiếm độc quyền mẹ hử? Con, đứa nào cũng là con. Mẹ là mẹ chung chứ! Mẹ không thể yêu đứa nào hơn mà ở hẳn suốt đời với đứa ấy được!
- Thì tau có biết chi mô. Hồi đó hắn về hắn siếc sẩm rằng không sao thuê được người trông con để đi làm. Cả nhà hắn phải trông vào đồng lương anh chồng hắn.
- Ừ, chuyện này thì mẹ không biết thật. Đây là con nói với nó, cái con Quyền. Hồi đó con đã gàn. Cho nên đến bây giờ nó vẫn còn giận con. Nếu hồi đó nó về cắt được hộ khẩu và mang mẹ đi hẳn lọt được, thì bây giờ mẹ chỉ còn cái xác. Cả nửa tá con nhà nó hành hạ mẹ cũng đủ. Trong cái đám mười anh chị em, đứa ở nhà quê, đứa ở tỉnh khác, thì chỉ có hoàn cảnh của con là đáng được mẹ ra ở hẳn với, bởi vì chồng con là bộ đội luôn phải ở trong B này, con lại còn nhỏ dại này, nhưng con có dám phiềm hà mẹ nhiều đâu! Đối với mẹ, con cũng biết điều lắm chứ. Vậy mà anh Ca vẫn trách con.
- Hằng à, mẹ phải ra gấp với con Quyền, là bởi tại vì nó đang
- Thì con cũng đang nóng ruột vì nó, chẳng đang vội vã thu xếp cho mẹ đi ra với nó đây là gì? Mẹ ra ngoài đó thì bảo nó hay chồng nó đánh ngay về đây cho con một bức điện, nói cho con biết đã xảy ra việc gì? Nếu hoàn cảnh nó bức bách cần tiền thì cũng nói mấy chữ luôn thể. Con sẽ gửi thêm tiền cho nó. Nhưng nếu trường hợp chẳng có việc gì cả, con Quyền chỉ đánh bức điện để lôi mẹ ra bòn rút sức lao động của mẹ, để mẹ giúp nó nấu nướng và trông lũ con cho nó, thì mẹ nhớ phải về ngay trong này với cháu Lan. Và luôn thể mẹ bảo nó trả cái áo len cho con. Mẹ bảo nó, con nói rất cương quyết như thế. Rồi mẹ gói giấy báo cẩn thận, mang về đây hộ cho con.
- Tui ở trong Vinh về nhà mới được có mấy ngày - Bà cụ Huân nói với nữ bác sĩ Thanh - thì đã phải vội vàng ra đây với con Hằng.
- Chuyến trước cụ vào Vinh với vợ chồng cậu út phải không?
- Vâng. Vợ hắn vừa bị sẩy thai. Trong chỗ thằng Lam ở trong Vinh về là tui định trong bụng là sẽ ở nhà hẳn. Thật tội nghiệp ông nhà tui, nấu một bữa ăn hai ba bữa. Năm ni, ông nhà tui ngoài bảy mươi mà phải tự nấu nướng lấy ăn, phải trông nom từ con lợn đến con gà, như đàn bà.
Chị Thanh cười:
- Còn cụ thì làm đại sứ lưu động?
Bà cụ Huân tuy chẳng hiểu "đại sứ lưu động" là gì nhưng cũng gật đầu:
- Vâng. nhưng tui định Tết ni mần răng cũng phải về ở nhà để lo liệu Tết nhất cho ông nhà tui, chứ để ông nhà tui Tết nhất lọm khọm một mình ở nhà, tui không đang tâm chị ạ!.
- Cụ chẳng còn sống được bao lâu nữa đâu! - Nữ bác sĩ Thanh nói, cố giấu trong giọng vẻ bất bình - Cụ cũng phải nghĩ đến việc an hưởng tuổi già nữa chứ? Chẳng lẽ cụ cứ chạy đi chạy lại mãi với con suốt đời hay sao? - Con xem như chị Hằng đây, chỉ biết thương biết quý chồng con thôi!
- Rứa đó chi ạ - Bà cụ Huân nói - Đời người ta vay của cha mẹ rồi trả cho con cái. Cho nên tui cũng không hề phàn nàn con cháu Hằng mô! Như chị ông bà cụ về cả, chị mới biết thương tui! Thôi, tui sang chào chị. Nhờ chị ở liền vách thỉnh thoảng giúp đỡ cháu Hằng mới. Tiếng thế nhưng một mình hắn, hai nách con nhỏ, chồng lại đi vắng, cũng vất vả lắm. Tui phải để mẹ con nhà hắn ở với nhau để đi ra ngoài Hồng Quảng chuyến ni cũng chẳng thật yên tâm.
Sân cỏ Tây Ban Nha
Với giọng văn hóm hỉnh và tài hoa, với lòng yêu mến môn thể thao vua, nhà văn Nguyễn Minh Châu chứng tỏ ông là một cây bút thật sung mãn trong nhiều đề tài của đời sống.
Sinh thời, nhà văn Nguyễn Minh Châu rất say mê môn thể thao bóng đá. Ông từng là cổ động viên cuồng nhiệt cho đội Câu lạc bộ Quân đội. Và đặc biệt là đội tuyển Liên Xô (trước đây). Ông cũng là người đặc biệt mê lối đá của các cầu thủ Nam Mỹ. Trong di cảo quý giá của ông, may mắn chúng tôi đã tìm được một truyện ngắn - có thể nói đây là truyện ngắn đặc sắc viết về thể thao, viết về bóng đá của văn học Việt Nam hiện đại. Với giọng văn hóm hỉnh và tài hoa, với lòng yên mến môn thể thao tuyệt diệu này, nhà văn Nguyễn Minh Châu chứng tỏ ông là một cây bút thật sung mãn trong nhiều đề tài của đời sống.
Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.
Tôi xách gói quần áo ướt bước thong thả ra khỏi phòng tắm. Chiếc đồng hồ treo trên bức tường lớn của gian thay quần áo chỉ 6 giờ 35 phút trên hàng chữ số La Mã. Phòng ping-pông chỉ còn duy nhất một cặp dẻo dai nhất đang vụt vào nhau tới tấp ở một cái bàn tận góc. Còn lại những chiếc vợt mút đã nằm im trên tất cả những chiếc mặt bàn mầu xanh thẫm. Tôi rảo bước đi qua cái gian phòng ping-pông rộng thênh thang lát gạch tráng men vàng đã bắt đầu lờ mờ tối nhưng vẫn chưa bật đèn, leo lên tầng hai.
Tiếng thành cốc thủy tinh khua lanh canh vào nhau, tiếng cười nói sảng khoái, những khuôn mặt hồng hào vì hơi men đang gật gù chụm vào nhau chung quanh những chiếc bàn gỗ nẹp thiếc hình vuông. Tận một xó góc kín nằm về cuối mút chiếc quầy bán vé, một người đàn bà trạc gần bốn mươi, mái tóc đốm bạc nhưng khuôn mặt vẫn còn trẻ đẹp ngồi xây lưng về một tấm gương lớn bằng cả một cái cánh cửa tủ. Và bao bọc lấy chung quanh người đàn bàn cùng với tấm gương, người ta tưởng như một cái chiến lũy phòng thủ, là từng dãy những chiếc thùng phuy xếp chồng lên nhau mà cái thứ chất lỏng chứa ở trong đó muốn biết hết cái giá trị mầu nhiệm của nó thì phải nhìn vào tận đáy cặp mắt nâu rất dịu dàng và thỉnh thoảng hình như lại ánh lên một vẻ mê say đầy ảo tưởng của người đàn bà ấy. Lúc tôi đi đến thì cái cặp mắt đẹp rất khó tả đó đang cúi xuống một cuốn sách truyện dịch đã nhàu nát để mở trên đùi, và đang vây bọc lấy người đàn bà bán bia kia là một đám năm sáu tay cầu thủ trẻ của đội bóng đá "Cơn lốc" nổi tiếng, mặc những chiếc áo dệt mầu đỏ thẫm có in chữ số và tay nào tay nấy vẫn còn ướt đẫm những mồ hôi.
Tôi lách vào giữa đám cầu thủ bóng đá, cầm tấm phiếu vừa mua trao cho người đàn bà, rồi vì đã quen, sau khi khẽ nghiêng đầu trước cặp mắt ấy, tôi cứ tự nhiên đưa tay nhấc một vại bia trong chiếc khay sắt giống như một cái sạp hàng tạp hóa đặt trước mặt bà ta.
Hai ngón tay của người đàn bà vẫn không rời chiếc vòi cao-su ấn xuống để cho cái chất nước vàng và sáng ngời chảy từ thùng ra những hàng cốc vại, bà ta nhấc cái nhìn đang đắm đuối của một người đọc một cách mê say ra khỏi những trang sách "Truyện chàng Đôngkisốt ở tỉnh Măngsow" đầy hấp dẫn, và nói với tôi bằng một giọng dè dặt:
- Xuống dưới ấy uống xong rồi ông nhớ để luôn cốc ở dưới đó... cho em đỡ đi tìm nhé!
- Vâng, vâng... xin bà cứ yên tâm! Tôi đáp một cách mau mắn, như một lời thề thốt rằng không bao giờ dám lãng quên cái việc lớn lao đến nhường ấy, để cho bà ta thực yên tâm, rồi một tay trịnh trọng cầm vại bia ngầu bọt tràn ra cả những ngón tay một cảm giác vừa mát lạnh vừa tê tê, buồn buồn, một tay xách chiếc túi lưới gói bộ quần áo ướt, đi lần xuống theo một chiếc cầu thang xây gạch tới một quãng nền nhà lát phibrô xi-măng thấp trũng đã đọng đầy bóng tối và xếp đầy những bộ xà đơn, xà kép hỏng, cùng các thứ dụng cụ thể thao lủng củng, rồi lại leo lên một chiếc cầu thang khác, ngắn hơn, cũng xây xi-măng nhưng lộ thiên, dẫn ra ngoài khán đài A của sân bóng đá.
Các bạn nhớ kỹ giùm hộ tôi cái quãng thời gian vô cùng thú vị của lúc này nhé: nắng chiều hè đã tắt, tắt từ lâu rồi nhưng hoàng hôn thì chưa đến, tuy vậy, cứ nhìn trời đất cũng đoán biết ánh hoàng hôn phục kích ở một xó góc nào đó thật xa đã trườn ra nhuộm tím các ngọn gió đang đi lang thang trên cái khung trời rộng thoáng của sân cỏ lúc này chẳng có một bóng người nào gọi là có.
Thế vậy mà chiều nay, mới đây khoảng một tiếng đồng hồ chứ không lâu, chung quanh sân bóng vắng tanh vắng ngắt như chùa Bà Đanh này vừa mới trào lên những làn sóng reo hò và vỗ tay của hàng chục ngàn người xem đầy kích động ngồi kín sân bãi, chứng kiến cuộc thi đấu vô cùng quyết liệt, nẩy lửa giữa đội đàn anh Cơn lốc - đội bóng đá nhà và đội đàn em Vỉa than đen, và trận đấu đã kết thúc với tỷ số hòa Một - Một. Một cái tỷ số chẳng mang tinh thần thể thao chút nào!
Cũng như mọi buổi chiều, tôi chọn một chiếc ghế đẹp nhất ở một vị trí trang trọng nhất chính giữa khán đài A để ngồi vắt chân nhấm nháp cốc bia tẩy trần sau một ngày làm việc cật lực bằng trí óc. Giá ban nãy trên đường đi từ cơ quan về, tôi không ghé vào cái câu lạc bộ nổi tiếng là nơi được phục vụ tốt này mà cứ đạp xe tuốt thẳng về nhà thì ắt hẳn vào lúc này mình đã trở thành miếng mồi ngon cho các thứ việc không tên, không tuổi, nhếc nhác và rối bù của một buổi chiều hàng ngày trong gia đình, giữa những tiếng lợn kêu, trẻ khóc, người lớn cáu gắt, quát tháo và giữa những mét vuông nhà ủ hơi nóng hừng hực.
Tôi nhìn xuyên qua cái chất lỏng mầu vàng ánh đang ngao du giữa các thành ruột và dạ dày của mình và tưởng như nhìn thấy những mảng nắng rực rỡ, lao xao trong các bãi mía bãi ngô ven các bờ sông thật xa xôi bên ngoài thành phố.
Thế rồi, sau khi nhấp đến ngụm bia thứ hai, tôi đổi chỗ ngồi, leo lên một chiếc ghế cao hơn, sang trọng hơn, đẹp hơn, để ngồi vắt vẻo một mình, chẳng có một ma nào cạnh tranh giành chỗ ngồi với mình, khuynh hai cánh tay ra hai bên thành ghế, phóng tầm mắt nhìn bao quát khắp mọi khu vực của sân cỏ, khắp mấy hàng ghế trang trọng nhất của khán đài A chẳng có ai ngoài tôi, và có mấy chú chim sẻ đang kêu lách chách trên cái mái che, và trong lúc cao hứng tôi chợt khoái trá nhận ra mình chính là tổng thống của nước Cộng hòa Áchentina đang cùng hàng chục triệu dân yêu bóng đá đến cuồng nhiệt của mình hồi hộp theo dõi trận thi đấu chung kết Espana 1982, giữa đội nước mình và một đội châu Âu bất ngờ nhất.
Tôi có một khuôn ngực và một cái bụng thật đáng buồn, có lẽ chúng đã ngồi nhầm chỗ của nhau. Từ khi còn bé dại cho đến giờ tôi chưa hề biết chơi một trò chơi hay một môn thể thao nào. Tuy sinh ra đã là một con người ít hoạt động và dút dát, thực ra ở trong tôi lại là một tay có tinh thần thượng võ đáng kể và đặc biệt là tinh thần thể thao thì tôi lại có thừa: Trong các hạng người ở trên đời, tôi yêu nhất các cầu thủ bóng đá, với những con người mà cái trò chơi của họ đã thể hiện đến mức tuyệt đối, tính chất quyết liệt không hòa hoãn của đời sống, bao giờ tôi cũng yêu họ bằng tất cả tấm lòng ngưỡng mộ và say đắm, yêu đến từng cái lốt chân của họ đã để lại trên cái đấu trường phủ cỏ cùng những vinh nhục chỉ xảy ra trong khoảnh khắc.
Vị tổng thống Áchentina đã cạn vại bia. Mặc kệ cho bao nhiêu công việc trọng đại đang chờ ngài ở tổng dinh, cũng mặc kệ bao nhiêu đại sứ và bộ trưởng ngoại giao nước ngoài đang chờ ngài về để trình quốc thư, cũng không hề lấy làm nóng lòng về những tin tức chiến sự trong cuộc chiến tranh với nước Anh ở quần đảo Manvinát, vị tổng thống Áchentina vẫn ngồi yên trong chiếc ghế sang trọng dưới cái mái che khán đài, tất cả tinh thần và tâm lực của ngài đã dốc hết ra để chăm chú theo dõi cuộc thi đấu chung kết của đội tuyển quốc gia nước mình và toàn dân Áchentina quyết tâm giữ chức vô địch bóng đá thế giới một lần nữa. Trận đấu diễn ra hình như không làm cho ngài tổng thống hài lòng lắm. Cho mãi đến gần giữa hiệp hai, những Kempet, Bectinio, Maradona, Điat đã trổ ra hết những tiết mục xiếc kỳ ảo và cả hàng phòng ngự lẫn hàng tấn công của đối phương đã bị đẩy lùi về trước khung thành của họ, vậy mà trận đấu vẫn cứ đứng lại như một cái kim đồng hồ chết ở cái tỷ số Một-Một.
Trước hàng ngàn triệu khán giả ở sân bãi và trước các màn ảnh vô tuyến truyền hình, trận trung kết giải Espana 1982 lịch sử đã bước vào phút thứ 73 và tỷ số Một - Một vẫn chưa bên nào phá vỡ nổi. Bên phía đội Liên Xô, các cầu thủ lừng danh của nghề đánh phá khung thành đối phương như Blokhin, Buriac, Trivatde, Kipiani vẫn luôn luôn phải lùi về trước lưới nhà để cùng với hậu vệ Xulacvelize chống trả một cách vất vả và những trận tấn công như bão táp, như ma quái của Kempet và Maradona. Trên chiếc ghế huấn luyện viên, ông bầu Conxtanlin Becxcôp thỉnh thoảng lại phải rút mùi xoa lau vừng trán hói lúc này đã bóng nhẫy. Tuy vậy trên khuônmặt tròn, luôn luôn hồ hởi, cả những lúc suy nghĩ căng thẳng vẫn biểu lộ một vẻ bình tĩnh, không nao núng, ông biết rõ đối phương của mình. Trong từng pha, từng giây một, ông đang đo lường cái trọng lượng ngàn cân của các đợt công phá mà ông phải chịu đựng. Tuy nhiên Conxtanlin Becxcôp đặt hết lòng tin vào đội hình mà mình đã lựa chọn, trong từng mắt xích của sự cản phá, cùng chiến lược mà ông đã dày công cân nhắc, suy nghĩ, để đem dùng vào trong trận đánh khủng khiếp lúc này. Trước một Achentina trong trận đánh lịch sử hôm nay để kết thúc, cũng như trước một Braxin ở trận mở màn, Conxtanlin Becxcop càng tỏ ra một người Nga chính cống. Trong chiếc valy nhỏ mà ông xách lên máy bay khi rời Matxcơva đi Madrit có một cuốn Chiến tranh và hòa bình. Từ một năm trước đây, Conxtanlin Becxcop khi chuẩn bị cho cái Espana 1982 này đã nhiều lần phải hỏi han cái ông già nhà văn Nga có cặp mắt nhìn thấu suốt tám cõi lòng người và khuôn mặt thông minh hơn người nhưng lại náu dưới một vẻ đầy chất phác và đôn hậu, và cái ông già cầm bút Lép Tôn-xtôi ấy đã giảng giải cho Conxtanlin Becxcốp, nhà chiến lược Xô-viết trên sân cỏ thế giới hiểu vì lẽ gì mà Cu-tu-dốp đã chiến thắng được Napoleon.
Như một Cutudop vừa bừng tỉnh dậy sau một giấc ngủ, Conxtanlin Becxcop, cựa quậy tấm thân hơi nặng nề trên chiếc ghế. ngồi sát ngay bên tay phải ông là Raman Senghelia, một con chủ bài mà ông đang giấu, đội dự chiến lược mà ông đang giấu, một cơn lốc phản công và cũng là một ông vua đánh đầu mà ông đang giấu.
Kể từ khi trọng tài thổi kèn đầu tiên bên hàng ghế đối diện. Menoti, huấn luyện viên Achentina vẫn luôn nhìn sang cái đầu hói của Raman Senghelia như canh chừng.
Conxtanlin Becxcop quay cổ tay nhìn đồng hồ. Còn 16 phút nữa. Đối phương, dù là đối phương Achentina cũng đã bắt đầu thoáng chút bối rối sau hàng chục đợt đánh phá khung thành Đasaep một cách vô hiệu quả.
Còn 15 phút Conxtanlin Becxcop đề nghị trọng tài cho thay người. Menoti, huấn luyện viên Achetina chiếu chiếc ống nhòm rất nhỏ nhìn sang thấy Conxtalin Becxocop đang quay sang nói nhỏ điều gì đó với Raman Senghe. Nhưng một phút sau, hai phút sau, vẫn thấy Cơn lốc phản công mặc nguyên bộ quần áo ngoài mầu đỏ sẫm với những vạch trắng, vẫn ngồi nguyên bên cạnh Conxtanlin Becxcop. Và người sắp vào sân, đang đứng trên đường biên dọc để cho trọng tài biên kiểm tra đế giày là một chàng thiếu niên mặt non choẹt, tóc đen, với một hàng ria mép như ria mượn, cũng đen như mun, gợi lên dáng dấp những con người miền nam, gợi lên cái nắng nực của thành phố Tbilixi. Kẻ thù sắp xuất hiện đối với huấn luyện viên Menoti và cả đội tuyển Achetina vẫn là một ẩn số.
Tôi quyết định thôi không đóng vai một tổng thống Nam Mỹ nữa. Tôi đã hết hứng làm lớn. Trong không khí vắng lặng và bóng chiều hè tĩnh mịch sậm mầu dần đang chậm chạp phủ xuống cái sân cỏ trước mặt, được ngồi một mình ở đây để nghỉ ngơi và phóng trí tưởng tượng đi đến những vùng xa xăm nhất cũng đã là một cái thú nhất trần đời rồi.
Hơi men lâng lâng làm cho con người như nhẹ thoát đi, tôi rời chiếc ghế tổng thống đứng dậy, bước ra sân cỏ.
Tôi dún dẩy hai đầu gối như người đang khởi động, nhận ra mình chính là cái ẩn số - Kẻ đối thủ nguy hiểm của đội tuyển Achentina đang sắp sửa bước vào sân. Tôi cảm thấy sau lưng, bàn tay của Conxtanlin Becxcop và cả Raman Senghelia đang vẫy tôi, cái nhìn theo của hai người đang khích lệ tôi đặt hết lòng tin vào tôi sẽ làm đổi tình thế, sẽ phá vỡ cái tỷ số Một - Một đáng ghét - vào giữa lúc đối phương đã nỗ lực vượt bậc nhưng vẫn chẳng làm thay đổi được.
Nếu bảo rằng tôi đang lĩnh một sứ mạng lịch sử vô cùng nặng nề, đem về niềm kiêu hãnh và vinh quang cho đất nước thì cũng chẳng có gì là quá đáng cả.
Một bầy chim sẻ như một nắm sỏi - từ trên nóc cái mái che vãi thia lia xuống sân cỏ, vào ngay giữa khu trung tuyến. Không, không, không phải là lũ chim xẻ mà đây chính là một đường bóng dài vô cùng thông minh từ khu vực phòng ngự do đội trưởng Xulac Velize vừa chuyền lên cho tôi. Tôi co giò đá một cú đá gió vào lũ chim sẻ đang ẩn mình trong cỏ khiến cho chúng mất hết cả tinh thần bay túa lên.
Chỉ trong chớp mắt, tôi đã dắt quả bóng tưởng tượng len lách tài tình như một diễn viên xiếc, qua hàng tiền vệ rồi lại qua cả hàng hậu vệ nổi tiếng của nước Achentina. Cả Maradona và Kempet - những con quỷ trên sân cỏ - bay về cứu nguy cho khung thành cũng không cản phá được đường bóng của tôi đang dắt đi.
Chính vào giữa lúc cái ẩn số đã không còn là một cái ẩn số nữa, mà đã trở thành một cơn hỏa hoạn đầy tai vạ cho khung thành đối phương, đã trở thành một nạn hồng thủy từ thời xa xưa trước Thiên chúa giáng sinh phút chốc đổ ập xuống khung thành của đối phương đang bỏ ngỏ, nghĩa là bằng một động tác lừa bóng, tôi đã làm cho cả Pizong, thủ thành Achentina cũng đã ra lỡ trớn, và trong cái giây đồng hồ trọng đại bằng cả một đời người ấy, chỉ còn một mình tôi đứng trước quả bóng, chỉ cách khung gỗ sơn mầu đen trắng có nửa thước. Tôi đang chuẩn bị co chân sút thì... đột nhiên ông tổng thống Achentina vẫn nguyên cả comple, cravat từ trên khán đài A chạy bổ nhào xuống.
Ông tổng thống mặt mũi đỏ gay, hai mắt trợn lên, như một vị thống chế vừa thua trận ngoài biên ải đã trở về đứng chắn ngay trước tổng dinh của mình.
Cho đến cái nửa giây cuối cùng, không, chỉ một phần mười giây đồng hồ cuối cùng, vị nguyên thủ quốc gia của nước Nam Mỹ chỉ còn mong cứu vãn lấy cái tỷ số Một - Một. Và, ngài phải đích thân đứng ra cứu nguy cho khung thành, như đã từng nhiều lần cứu nguy những tình thế chính trị phức tạp ở trong nước có thể làm lung lay cái ghế tổng thống của ngài.
Ánh hoàng hôn dịu dàng của một ngày đầu hè rực rỡ từ mầu xanh lam đã chuyển sang mầu xanh sậm huyền ảo đang từ từ phủ xuống cái sân cỏ nổi tiếng của thủ đô Madrit. Lá cờ của Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô-viết vừa được kéo lên lần đầu tiên trong lịch sử nền bóng đá thế giới, do một cầu thủ trẻ, như một ngôi sao sáng nhất của cả bầu trời mà huấn luyện viên Conxtantin Becxcop vừa hái được, từ lâu vẫn cất giữ thật kín trong túi áo.
Một tay cầm chiếc cốc không, một tay xách chiếc túi đựng bộ quần áo ướt, tôi rảo bước đi qua cái phòng ping-pông đến lúc bấy giờ cả cái cặp chơi dẻo dai nhất cũng đã thôi đánh, ra về trước tôi từ bao giờ.
Đám cầu thủ của đội "Cơn lốc" anh nào anh nấy mặt mũi đỏ gay, đang ồn ào xuống thang. Tôi ưỡn ngực kiêu hãnh như một ẩn số vừa chiến thắng từ nước Tây Ban Nha trở về thực, khi đi qua trước "mấy cậu" trong đội bóng nhà.
Tôi đưa trả chiếc cốc cho người đàn bà bán bia.
Không những là một phụ nữ đẹp của câu lạc bộ mà bà ta còn là một người mê đọc sách và nổi tiếng về tài ăn nói tế nhị. Bà ta vừa đóng những cánh cửa gương của hành lang phòng nhà gác giải khát vừa quay lại tủm tỉm cười hỏi tôi:
- Này ông nhà văn, chiều nay ông sút thủng lưới đội tuyển thế giới nào vậy?
- Đội Achentina, tôi khiêm tốn đáp.
- Ông vừa từ nước Tây Ban Nha trở về cho nên tinh thần có khác!
Bà ta ngập ngừng khi đóng đến cánh cửa gương cuối cùng, thủng thẳng nói với tôi bằng một giọng hơi chế riễu.
Tôi quay lại:
- Bà vừa nói sao?
Người đàn bà chỉ tủm tỉm cười không đáp.
Tôi lững thững đi đến bên khuôn cửa gương nhìn xuống cái sân cỏ của thủ đô Madrit đang có những cơn gió mầu tím lang thang trong ánh hoàng hôn. Trong lúc tôi chỉ cho người đàn bà bán bia nhìn thấy vị tổng thống của nước Achentina đang cúi lom khom trong cái khung gỗ để nhặt bóng, thì người đàn bà chỉ cho tôi thấy hình ảnh của chính tôi: chàng hiệp sĩ nổi tiếng thế giới của nước Tây Ban Nha đã chán ngấy cái nghề đánh nhau với cối xay gió và đang bắt đầu khoác áo cầu thủ bước vào sân cỏ.
Nói đùa câu ấy xong, người đàn bà bán bia vẫn tiếp tục tủm tỉm cười rất kín đáo và đầy độ lượng, nhét vào chiếc túi lưới đựng bộ quần áo ướt của chàng hiệp sĩ Đônkisôt cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Xecvantet, cuốn sách mà tôi đã cho bà ta mượn.
(Những ngày vô cùng hào hứng
chờ bước vào giải Espana 1982)
Sắm vai
Có một thời tôi tin là tôi cũng có thể học đòi được đôi chút công việc văn chương là bởi như thế, là bởi vì cái người khuyến khích tôi, là anh. Không biết có phải anh là một người sống nghiêm ngặt và quá tỉnh táo hay không, nhưng tôi thấy có một điều: ở các lĩnh vực khác thì đó là một kẻ độ lượng, riêng trong lĩnh vực nghề nghiệp của anh - cái nghề viết văn của anh - quả thực tình tôi chưa hề thấy anh khuyến khích bất kỳ một ai bước chân vào bao giờ. Vậy mà anh bảo tôi hãy thử bước chân vào, anh khích lệ tôi hãy thử làm cái công việc vô cùng khó khăn, và, như anh hay nói để cho tôi có thể hiểu ngay được: "Cái thứ công việc chúa hay đánh lừa người ta, cũng giống như sân khấu thường hay đánh lừa cậu, khiến cho cậu đôi khi cứ ngỡ mình là vua, là bậc anh hùng tái thế, là vân... vân...".
- Viết truyện ngắn khó lắm, - anh nói với tôi, - không riêng ở ta mà cả trên thế giới, bất kỳ thời kỳ nào người ta cũng dễ dàng tìm ra những chuyện dài, những tiểu thuyết hay, nhưng truyện ngắn hay thì thưa thớt lắm. Tuy vậy, thật là điều trớ trêu, đó là một thể loại thích hợp nhất cho những người mới bắt đầu tập tễnh cầm bút tự rèn luyện trong bước đầu. Không có cách nào khác, cậu hãy bắt đầu thử sức bằng một cái truyện ngắn! Anh nhắc đi nhắc lại với tôi điều đó, sau khi đã dẫn ra những đặc điểm của truyện ngắn. Anh có cái đầu rất to. Trong khi anh nói, tôi ngẩng lên ngắm cái đầu ấy đang khe khẽ gật gà gật gù. Tôi pha một chén trà thật đặc kính cẩn đặt trước mặt anh. Anh cầm lấy, nhấp một ngụm, đặt xuống, tự tay cầm cái phích chế thêm nước trắng vào. Uống xong chén nước là anh đứng dậy. Anh hỏi tôi đôi ba câu về công việc của tôi hồi này ở đoàn kịch, rồi có khi bắt tay tôi có khi quên, anh liền bước ra cửa.
Anh là một con người như thế đó. Trong kho tàng chữ nghĩa của tiếng mẹ đẻ, anh hay đem ra chế giễu nhất hai tiếng "nghệ sĩ". Tuy vậy từ ngày được làm quen với anh, tôi vẫn nghĩ anh đã cho tôi thấy hình ảnh một người nghệ sĩ chân chính. Cái ấn tượng mạnh nhất mà anh đã gây cho tôi là ấn tượng về một con người đã dám tự tước bỏ đi hết mọi cái phù phiếm, những lớp vỏ bề ngoài vô bổ, tất cả những cái gì lấp lánh có thể lừa dối mình và người khác, trong cuộc sống hàng ngày của chính mình.
Vào cái dạo đó anh rất bận, mà tôi cũng bận. Vở kịch mà tôi sắm vai chính đang phải tập rất gấp rút. Mỗi ngày một buổi tối làm việc ở đoàn. Những khi ở nhà, tôi vẫn phải suy nghĩ về các màn, các cảnh mà nhân vật của mình có mặt. Tôi chưa có vợ. Tôi ở một mình trong một gian gác nhỏ, trông thẳng sang mặt sau một ngôi nhà có nhiều buồng (có những một trăm hai mươi buồng). Mặt trước và mặt sau các gian buồng đều có hiên và xây giống nhau như lột. Từ ngày rắp tâm tập tễnh thử viết một cái truyện ngắn đầu tiên, tôi thường làm theo lời khuyên của anh T. Luyện cho mình thói quen quan sát mọi vật chung quanh. Tôi quan sát thấy ngôi nhà đối diện có một cuộc sống đặc biệt cũng hay hay, mà trước kia thường ngày tôi không thấy, hoặc không để ý đến. Khoảng năm giờ sáng, hầu như phần lớn những người trong tất cả các gian buồng đều đổ ra hiên sau tập thể dục. Năm giờ rưỡi: họ ăn sáng, cũng ở ngoài hiên. Sáu giờ họ chải tóc và mặc quần áo cũng ở đấy. Tất nhiên là đang giữa mùa hè, một cái thời khóa biểu mùa hè, những thói quen mùa hè. Tôi quan sát cái xã hội đông đúc trong ngôi nhà đối diện, chiều dọc từ tầng trên cùng xuống tầng dưới cùng. Rồi lại nhìn theo chiều ngang, thứ tự từng tầng một, từ đầu này đến đầu kia. Một ngày cũng như một đời người, có lẽ buổi sáng là lúc người ta hối hả bận rộn và năng nổ nhất. Vừa thấy cái mặt sau của ngôi nhà y như một cái bãi tập luyện thân thể, nhưng chỉ mấy phút sau đã biến thành một cái khách sạn trong giờ điểm tâm có hàng trăm người ăn. Rồi thoắt cái, cái mặt sau của ngôi nhà đã biến thành hậu trường sân khấu đang giờ hóa trang; đã đến giờ những người trong ngôi nhà chải đầu, mặc áo, đội mũ, đi giày... Khi những cánh cửa trước và cửa sau của một trăm hai mươi gian buồng đã được khóa lại, và mọi người trong nhà xách túi, ôm cặp, dắt xe đạp hoặc xe máy từ trên các tầng trên gác ùn ùn đổ xuống cầu thang để đi ra ngoài đường, thì thật là tôi khó nhận ra ngay được họ. Người nào người nấy đều khác đi. Y như các diễn viên đã hóa trang xong và đang bước ra sân khấu.
Anh T., người mà tôi đang kể với các bạn, cũng ở một buồng của tầng thứ nhì trong ngôi nhà. Anh là một thành viên trong cái xã hội ấy từ lâu. Và cũng đã từ lâu, anh là người duy nhất không sống theo cái thời khóa biểu tự giác và vô cùng nghiêm ngặt, cũng như những thói quen của mọi người trong ngôi nhà. Ví dụ, vào khoảng sáu giờ sáng hoặc trễ hơn mấy phút, ngay trên đầu anh ở tầng ba, có một nhà ông đầu hói bóng không còn một sợi tóc nào, vậy mà đến cái giờ đó cũng cầm một cái lược chải lật những sợi tóc tưởng tượng từ đằng trước trán ra sau gáy, bàn tay cầm lược chải đến đâu thì bàn tay kia miết tóc đến đấy, như sợ có một sợi tóc bướng bỉnh không chịu nằm ốp sát vào bộ tóc.
Suốt buổi sáng, trong lúc hàng trăm con người thức dậy hối hả tập thể dục, ăn sáng và chải tóc thì anh T. vẫn cứ ngồi viết. Anh có thói quen thức dậy vào lúc hai, ba giờ sáng, ngồi làm việc đến trưa mới đi ăn. Đang là thời kỳ anh phải làm việc găng nhất. Cuốn tiểu thuyết anh đang viết mới được hơn một nửa. Anh là một người vừa có tài lại vừa có nghị lực. Những buổi sáng ngó sang buồng anh, bao giờ tôi cũng trông thấy một ngọn đèn điện che bởi một tờ giấy trắng, một khoảng ánh sáng tròn tròn trên một cái mặt bàn ngổn ngang sách vở, giấy má, và một cái lưng cúi khom được khoác một cái vỏ áo bông mầu xanh công nhân. Những lúc ấy, nhìn anh đang mải mê làm việc, tôi cứ nghĩ: họa là có sét đánh, hay bom nổ, hoặc động đất, thì mới có thể nhấc anh quẳng ra khỏi những trang bản thảo đang viết dở và cái lon sữa bò đựng tàn thuốc lá mà tàn thuốc đã có ngọn.
Cách làm việc dữ dội của anh đã trở thành một thói quen, đã trở thành bình thường đối với mọi người trong ngôi nhà, cứ đều đặn như thế, thì một hôm, chẳng động đất, cũng chẳng có sét đánh, vậy mà tôi thấy tự nhiên không biết nghĩ thế nào mà anh đã đem thay đổi cái thời khóa biểu và những thói quen riêng của mình, cho phù hợp với mọi người. Nghĩa là cũng ngủ đến tận năm giờ sáng, lúc nhạc báo thức dạo lên oang oang trên mái nhà, mới dậy. Sau đó anh cũng tập thể dục theo nhạc thể dục trên loa phóng thanh. Lúc mọi người trong nhà anh ăn sáng thì anh cũng ăn sáng. Rồi anh cũng chải tóc và mặc quần áo đúng lúc mọi người chải tóc và mặc quần áo. Trời ơi, chẳng hiểu vì sao và không biết tôi có nghĩ điều gì sai không, chứ trông thấy anh T., vào lúc năm giờ sáng, đúng cái lúc anh làm việc được nhiều nhất, cũng mặc quần đùi may ô, đang nắm tay gừng lại mà đấm túi bụi vào không khí, trên đầu một người đàn bà rất béo, mặc áo lụa viền đăng ten, và trong khi đó thì trên đầu anh, cái nhà ông hói đầu đang chu miệng lại thở phùn phụt như một khẩu súng hơi, thì tôi thấy anh đã trở nên... mất bình thường mất rồi!
Rồi một hôm tôi thấy anh dắt ở đâu về một chiếc xe đạp nữ. Anh nói với tôi, đó là chiếc xe đạp của vợ anh đã cho một người bạn gái nào đó mượn dùng, vợ anh vừa đánh điện về, bảo anh đòi lại. Vẫn theo lời dặn trong bức điện, anh hì hục tháo chiếc xe ra lau chùi sạch bóng, rồi tra dầu tra mỡ. Rồi một hôm khác, anh đi lắp một cái hàm răng giả. Hàm răng giả bao giờ cũng đẹp hơn hàm răng thật, nhất là hàm răng thật của một người nghiện vừa thuốc lá vừa thuốc lào như anh. Hàm răng của anh bây giờ đều tăm tắp, mà trắng. Anh bắt đầu cai thuốc lá, để giữ hàm răng giả được trắng, mà khỏi hôi mồm.
Tôi bắt đầu ngạc nhiên quá. Anh là một con người khác kia chứ đâu thế này? Anh đã từng nói với tôi, trong những cái đánh mất, có thể đánh mất vàng bạc châu báu, nhưng không được đánh mất mình. Chưa hết. Anh đi may quần áo mới, mấy cái áo sơ mi toàn là các mầu còn trẻ cả. Vẫn chưa hết. Một hôm anh đi ra phố suốt cả buổi sáng. Trưa anh trở về, thì, mái tóc đã được nhuộm. Mái tóc của anh trở nên đen như mun chứ không lốm đốm bạc nữa, lại còn lượn sóng trước trán. Thế này thì hết nước. Một con người như anh T. của tôi mà bỏ công việc viết lách, bỏ dở chồng bản thảo đấy, để phung phí thì giờ đi nhuộm tóc và may sơ mi ca rô bó hông như thanh niên? Thế này thì hết nước, tôi chỉ muốn giơ cả hai tay lên trời mà kêu lên, nhưng thế này là thế nào, hả trời?
Rồi một buổi tối, anh sang gặp tôi. Anh hỏi vào những ngày thứ mấy thì có chuyến máy bay từ nước ngoài về. Rồi bằng một giọng hồi hộp và trịnh trọng, anh báo cho tôi hay, chỉ nội trong tuần lễ này, là vợ anh về.
Mấy hôm sau, anh nhận được bức điện thứ mười hay thứ mười một gì đó, vợ anh báo ngày giờ chính thức, "nàng" sẽ "bay" về đến đất nước. Chỉ trong có một buổi chiều mà anh chạy sang phòng tôi ba lần. Anh sang bàn với tôi sáng ngày mai có nên mang "thằng bé" sang bên sân bay đón mẹ nó không. Thằng bé ở với mẹ anh, ở một khu phố tận cuối thành phố. Nó mới bốn năm tuổi gì đó thôi. Nó đang ươn người, cho nên anh cứ phân vân. Vì phải lo nhiều việc như một cô gái sắp đến ngày cưới, trông anh gầy tọp đi. Thật tội nghiệp, một con người rất quyết đoán trong việc xử lý các hành động tầy trời của các nhân vật của mình trong sách, vậy mà gặp một việc riêng quá nhỏ mọn, lại không biết xử trí thế nào. Mãi anh vẫn chưa quyết định xong sáng ngày mai có nên cho "thằng bé" ra sân bay, hay không?
Nhưng rồi cũng xong. Thế là vợ anh đã về. Tôi đã hiểu ra tất cả cơ sự. Cả ngôi nhà đều ngạc nhiên chứ không phải riêng tôi. Không ai ngờ vợ anh lại trẻ đến thế, trẻ mà đẹp! Hai vợ chồng từ bên sân bay trở về nhà vào một buổi trưa hôm đó, chị từ trên một chiếc xe con của cơ quan chị bước xuống, sau khi anh T. đã xuống trước mở sẵn cánh cửa xe: trông anh xử sự y như một người châu Âu! Chị mặc một bộ đồ đầm mầu ngà, chiếc váy chỉ ngắn chấm gối và đi đôi giầy rất to, như hai cái móng trâu, đế giầy mầu đỏ cao đến một tấc (hồi này guốc sa-bô mới xuất hiện). Người đàn bà vừa xuất hiện là thấy ngay sự hoạt bát và chủ động. Chị nhanh nhẹn cởi áo khoác ngoài. Đôi giầy "móng trâu" cũng lập tức được cởi ra. Chị hối thúc anh T. hãy xắn tay áo lên mau mau cùng chị khiêng hành lý đồ đạc lên nhà. Người nữ đạo diễn múa vừa mới ở nước ngoài trở về ấy làm công việc khuân vác vô cùng thuần thục: "nhẹ tay nào anh!", "thứ này không được để va chạm mạnh". Anh T. thì lóng ngóng quá đi mất! Hết để va chạm mạnh lại làm nặng tay. Chị hướng dẫn hai ba bận nhưng anh vẫn cứ vụng về, lóng ngóng, chị xót ruột, bắt buộc phải "thải hồi" anh để nhờ đồng chí lái xe giúp hộ chị một tay. Tuy vậy, sau khi đã khuân hết đồ đạc lên buồng riêng trên gác hai, và đồng chí lái xe đã ra về, chị liền đóng sập cánh cửa trước lại, chị vội vã ôm lấy anh mà hôn lấy hôn để, sau khi hôn anh một chập, chị ngừng lại để ngắm anh, rồi lại tiếp tục cứ thế mà hôn khiến anh gần tắc thở! - "Anh yêu của em, anh ngoan lắm! Anh đã làm theo đúng lời dặn của em. Em cảm ơn anh lắm. Đấy, anh thấy chưa, anh trẻ hẳn ra. Lại còn trẻ hơn ngày em ra đi cơ!".
Bây giờ thì không những người chủ của nó mà ngay đến cả cái gian buồng ở tầng hai của anh T. cũng thay đổi, cũng "trẻ" hẳn ra. Tôi vẫn nhớ tính anh T. rất ghét bày biện trang hoàng trong phòng nhiều đồ đạc và tiện nghi phiền phức. Anh đã từng nói đùa với tôi, trong phòng anh, anh thích nhất một thứ âm nhạc là sự im lặng, và một thứ hội họa là để bốn bức tường trống. Trước đây ba năm, khi vợ còn ở nhà, chị đã sắm một ít đồ đạc và tiện nghi nhưng sau đó, thứ thì anh cho người ta mượn dùng, thứ thì anh đem cho, chỉ để lại một cái giường và một cái bàn viết kê ngay trên đầu giường. Thành thử gian buồng có một khoảng trống. Anh rất thích khoảng trống đó. Anh đã từng nói với tôi: Sống làm sao để có thể làm việc được là cả một nghệ thuật. Nhất thiết phải biết giản ước bớt những cái rườm rà, phiền toái đi! Cũng như làm một phép tính phân số, phải biết rút gọn nó lại đến mức không thể rút gọn được nữa. Lúc đó sẽ hiện ra cái gì giản dị nhất, sáng rõ nhất, dễ hiểu nhất. Vẫn theo anh, cái đầu của người ta có thể chứa rất nhiều, những điều rất có ích và cả những điều vô bổ, nhảm nhí, cho nên không những phải biết nhớ mà biết quên cũng là một điều tối cần thiết, cũng như phải biết "giản ước" bớt đồ đạc trong một gian buồng, để có được một khoảng trống mà đi lại, mà thở! Cho nên trước đây, mỗi lần tôi sang bên anh, nếu không thấy anh đang ngồi viết ở bàn thì đang đi đi lại lại, hay đang nằm khểnh "vắt chân chữ ngũ" giữa nền nhà, bên một cái bồ giấy đựng điếu cày.
Bây giờ thì cái gian buồng ấy, từ bên chỗ tôi nhìn sang cũng thấy, không còn lối mà đi lại nữa. Không còn không khí để mà thở nữa. Chỉ thấy đồ đạc và đồ đạc, mà thứ đồ đạc nào cũng đầy mầu sắc, cũng phát ra ánh sáng. Có thứ đồ đạc nằm im, lại có thứ bai bải nói không biết mệt: Máy thu thanh, máy quay đĩa, băng nhạc cát-sét lại còn máy hút bụi kêu ro ro. Chị ấy đang phải thử lại các thứ đồ đạc xem trong khi đi đường có hỏng thứ gì không. Gian buồng anh T. bây giờ như cả một cái chợ phiên vậy!
Đồ đạc không chỉ bày trên nền nhà, mà còn leo cả lên tường: những tấm thảm, những đĩa nhựa vẽ đồ họa, những hoa lá và búp bê, và tượng sành, tượng gỗ... Trên một mặt tường trống, ngày xưa một lần anh T. đính lên trang báo có in khuôn mặt của Anh-stanh khi về già (là nhà văn nhưng anh T. lại rất ngưỡng mộ các nhà bác học). Bây giờ khuôn mặt của Anh-stanh với mái tóc bạc phơ và cái trán đầy nếp răn cũng đã bị che lấp đi bởi những thứ đồ đạc.
Khuôn mặt anh T. bây giờ cũng y như vừa bị chia đôi ra: một bên đầy suy nghĩ và lơ đễnh của người nghệ sĩ sáng tạo, một phía bên kia lại hết sức vui vẻ, trẻ trung như một người đang còn hóa trang dở dang chưa xong.
Chị T. về với anh đã được gần tuần lễ nhưng vì bận công việc quá, tôi chưa hề sang thăm anh chị được. Dạo bấy giờ đoàn kịch của chúng tôi sắp công diễn một vở kịch nói ba màn rất đồ sộ. Tôi được phân công sắm một vai rất "nặng". Khó nhất là màn cuối cùng. Đêm nào được ở nhà, tôi cũng phải một mình soát lại tỉ mỉ từng lời nói, từng cử chỉ của mình trên sân khấu, nhập cho được y hệt vai đang sắm. Trong khi đó, bên ngôi nhà đối diện, ở cái gian nhà anh T., hai anh chị đang cùng nhau vui sống những ngày gặp gỡ đầy hạnh phúc, sau những năm mỗi người phải sống một nơi.
Kìa, anh T. đang ngồi trước cái bàn viết, đang thở khói thuốc lá với dáng điệu hết sức thoải mái, nhàn rỗi. Anh ngồi ghếch cả hai chân lên chồng bản thảo và sách sở, cái mặt ngửa lên ngắm trần nhà, là cái nơi duy nhất không thể bày biện đồ đạc, còn chị đang ngả mình trên chiếc đi-văng mới mang về.
- Anh T. ạ, - chị T. nói với chồng bằng giọng âu yếm, - sau này nhất định phải tạo điều kiện để cho anh tiếp tục làm việc. Em sẽ chăm sóc anh. Em sẽ chiều anh. Nhưng anh cũng phải chiều em một chút. ở chỗ cơ quan em, và cả mấy nơi mà em hay lui tới công tác, người nào cũng biết nhảy cả. Chẳng lẽ nay mai anh đi với em đến những chỗ đó, em toàn nhảy với những người khác, còn anh thì ngồi một mình. Trông nó chướng lắm.
- Anh ngồi một mình cũng được. Anh chẳng thấy chướng gì cả.
- Là chướng cho em, chuyên môn nhảy với những người đàn ông khác.
- Không, anh không biết nhảy.
- Không biết thì học chứ khó gì anh? Có phải anh đẻ ra đã biết viết văn đâu? à phải rồi! Anh sẽ dạy em viết văn mới được.
- ối!
- Còn em sẽ dạy anh nhảy.
- Không...
- Có. Em sẽ dạy anh, ngay bây giờ. Chỉ sau một tiếng là nhảy được.
- Anh van em.
- Anh không "ngoan" rồi! Anh không ngoan, em giận cho bây giờ!
Tôi ngồi bên này nhìn sang: Kìa, anh T. đang học nhảy. Anh ấy học nhảy đầm với vợ! Anh ấy đứng giữa nhà, ngay trước mặt chị. Thân hình cao, gầy gò, khô héo của một người làm việc trí óc quá nhiều và đã ngoài năm mươi được che bọc trong chiếc sơ mi ca rô bó hông và chiếc quần ga-bác-đin mới may được là gấp cẩn thận, anh lóng ngóng, ngượng nghịu đặt một bàn tay lên eo hông vợ, y như sắp phải khuân vác một thứ đồ đạc rất dễ vỡ, bàn tay kia giơ lên ngang vai, những ngón tay đan vào những ngón tay vợ. Theo lời dạy bảo ân cần của chị, anh bước lên, lùi xuống, bước sang phải, lại bước sang trái, cái lưng gầy của anh cũng cố đung đưa, cũng cố làm ra vẻ uyển chuyển, nhịp nhàng, với một điệu bộ trang trọng. Đúng như lời chị, sau một giờ, anh đã tạm nhảy được, chỉ thỉnh thoảng mới đi sai một bước, mỗi lần đi sai bước, anh lại nhỏ nhẹ "xin lỗi" vì đã trót xéo lên chân chị, theo đúng phép lịch sự.
Theo cái đà sống vui vẻ như vậy, chị lại còn cùng anh đi tìm cảm giác, như nài anh ra vườn hoa ngồi ghế đá, như một cặp tình nhân, lại còn cùng nhau đi bơi thuyền, đi câu cá. Chị xếp đặt ngay trong phòng một góc như một cái mỹ viện để chuyên việc chăm sóc sắc đẹp của anh. Bây giờ, mỗi buổi sáng, anh phải mất từ nửa giờ đến một giờ vì cái tóc, cái mặt. Cho nên cái mặt anh lúc nào cũng nhẵn nhụi, bóng bẩy. Anh đẹp trai hẳn lên. Lại trẻ hẳn ra. Chị lại còn lưu ý anh cách đi đứng, cách bắt tay và cười xã giao. Cái miệng anh bây giờ lúc thì cười hết cỡ, lúc thì cười mỉm, lúc cười duyên, lúc cười chua chát, lúc thì lại làm ra vẻ ngây thơ.
Mọi việc đều xảy ra tốt đẹp, hạnh phúc, không bút nào tả xiết. Nhưng cái bát đĩa gần nhau còn có lúc va chạm, huống hồ con người ta? Không va chạm, xích mích đôi chút do cách sống khác nhau vặt vãnh, hoặc do hiểu nhầm nhau, chưa phải là hạnh phúc toàn vẹn, cũng chưa phải là cách sống trẻ trung: Cho nên chị lại còn "đạo diễn" cả cái trò chơi "vợ chồng dỗi nhau", như một cặp vợ chồng trẻ con thực sự. Một buổi trưa, vừa dùng bữa xong, chị không trao đổi với anh những câu chuyện thuộc về nghệ thuật hoặc phép lịch sự trong nhà hát như mọi ngày. Anh đang ngồi hút thuốc lá và "xả hơi" bằng cách ngước mắt lên ngắm cái trần nhà, thì trông thấy một mẩu giấy từ phía sau phóng về phía trước mặt mình. Anh liền giở ra đọc thấy một hàng chữ: "C. giận T. lắm!". Anh vội vã vứt điếu thuốc đang hút, chạy như lao về phía chị, nét mặt vô cùng hốt hoảng:
- Anh xin lỗi em nào! Có việc gì hiểu nhầm thế hả em?
Miệng nói dịu ngọt, bàn tay vuốt ve trên mái tóc, trên gáy, trên cánh tay vợ. Mọi khi chị như một đóa hoa, như một con chim, như một làn ánh sáng. Bây giờ chị như một tảng đá. Anh vẫn biết thừa rằng đây chỉ là một trò chơi, chứ không phải chị giận thật. Tuy vậy, anh vẫn phải chơi cái trò chơi này với chị, chơi thật hết sức của mình.
- Anh có điều gì làm em không bằng lòng nào, hả em, con chim của anh?
- ...!
- Hay là anh đã không "ngoan"? Em nói đi, anh sẽ "ngoan" ngay mà!
- ...!
- Hay là...
- Hú òa! - Bất ngờ chị xoay người lại, giang rộng cả hai cánh tay đánh đu trên cổ anh và cười ngặt nghẽo.
Anh cũng vội vã cười phá lên, cười mãi, cười hoài. Như một cái máy. Anh cười ngặt nghẽo như một cái máy, đến chảy nước mắt.
*
Chẳng may cho tôi đúng lúc ấy, tôi gõ cửa. Chính anh ra mở cửa. Anh niềm nở chìa tay bắt tay tôi và tôi thấy cái bàn tay của anh thật kiểu cách. Tôi biết thừa anh bắt tay khách chỉ nhằm mục đích để cho vợ xem. Tôi thấy chị đang ngồi phía sau gật đầu bằng lòng. Tôi đưa hai cái vé mời anh chị đi xem buổi biểu diễn vở kịch mới, rồi cáo từ. Hình như một hoặc hai hôm sau, tôi không nhớ thật rõ, tôi chỉ nhớ được rằng cái hôm đó, lần đầu tiên trong đời, tôi đã hiểu được như thế nào là nguồn cảm hứng sáng tác, mà ngày trước anh T. thường hay gọi nôm na là cái lúc muốn viết. Tôi đang ngồi viết cái truyện ngắn đầu tay mở đầu cho "văn nghiệp" của mình một cách vô cùng hào hứng. Tuy vậy, tôi vẫn loay hoay chưa biết kết thúc nó ra sao, và vẫn còn đang băn khoăn, như lời anh T. hay nói, những trang giấy mà tôi đã "bôi" mực lên có phải là văn học hay chỉ là một sự lừa dối mình, giữa lúc ấy thì anh T. bước vào.
Một lần nữa anh lại làm tôi ngạc nhiên. Anh đã trở lại cái phong thái giản dị, thoải mái, tự nhiên như mọi ngày. Anh chẳng bắt tay tôi mà lập tức vớ ngay lấy cái điếu cày của tôi dưới gậm bàn rít một mồi thuốc muốn bật nõ điếu. Trong cơn say khoái trá đang ngất ngư, anh lại gật gù khen tôi hôm trước diễn "sạch"! Cái ông này mà đã khen đến cái chữ "sạch" là tôi có thể tự tin trong nghề sân khấu được rồi! Như thế là anh khen tôi thật. Tôi để ý thấy anh cũng đã trút bỏ tất cả các thứ quần áo "vui vẻ trẻ trung", lại đánh một cái quần bộ đội và cái áo mầu xanh công nhân, bộ cánh diện tứ thời ngày xưa (anh thích mặc cái vỏ áo bông vì nó rộng dễ cởi ra mặc vào, hoặc khi ngứa ngáy, gãi cũng rất dễ).
Anh đặt chồng bản thảo dày cộp cuốn tiểu thuyết của anh đang viết dở dang xuống bàn tôi, miệng nói ngượng ngịu:
- Cậu cho mình ngồi nhờ đây một thời gian, được không?
Tôi liền hiểu ý anh.
Tôi mừng rỡ cuống quýt. Tôi vội nhận lời. Tôi hấp tấp vơ những thứ đồ đạc trước mặt anh và cả mười trang giấy bản thảo của mình vẫn còn bày trên mặt bàn.
Bất ngờ anh giơ tay chận bàn tay tôi lại:
- Cái gì đây? - Anh quệt ngón tay lên một trang giấy của tôi vẫn còn ướt mực - Cậu đang viết cái gì hở?
- Tôi thử một cái truyện ngắn... - Tôi đáp lúng túng.
Thế là anh cố giằng lấy kỳ được những tờ giấy từ trong tay tôi, khiến cho tôi lúc ấy chỉ muốn châm lửa đốt quách đi. Tôi đỏ mặt, vừa xấu hổ vừa sợ hãi, như một tên tội phạm bị bắt quả tang.
- Hay lắm! - Vừa liếc qua trang đầu anh đã đỏ mặt, rồi reo lên: - Thằng xỏ lá! Mày viết tao hả?
- Thưa anh, tôi đâu có... dám...
- Lại còn chối? Lại còn chối nữa! Nhưng chưa viết xong phải không?
- Vâng ạ!
- Vậy thì viết cho xong đi. Đã đặt tên chưa?
- Chưa ạ!
- Ngay trước khi viết đã phải đặt cho nó một cái tên. Truyện ngắn khác truyện dài ở cái chỗ đó. Truyện ngắn chỉ nói một ý, một vấn đề. Đặt tên trước tức là đã cắm cho nó một khu đất nhất định, không được đi lang thang ra ngoài. Kinh nghiệm cho biết như vậy.
Giảng xong, anh đọc lại một lần nữa, liền bảo tôi:
- Cái truyện ngắn này, mình thử đặt cho nó một cái tên cậu đồng ý không?
- Vâng, - Tôi cúi đầu, - trăm sự nhờ anh!
- Thôi đi đừng vờ vĩnh đóng kịch nữa! Anh đã có dịp quan sát được hết, mọi chi tiết những cái lố bịch của tôi! Già rồi mà vẫn còn chơi trống bỏi, chắc anh đang vừa cười tôi lại vừa đang chửi tôi như thế! Được rồi, anh hãy cứ đặt cho cái thằng nhân vật lố bịch của anh một cái tên đầy chất sân khấu: "Người sắm vai!". Được chưa? Lại còn chưa được nữa! Được quá đi chứ?
Rồi anh cười. Trong đời tôi chưa bao giờ được nghe một tiếng cười lạ lùng và đáng thương như vậy. Cười xong anh lập tức ngồi xuống bắt tay làm việc. Tôi rón rén đặt trước mặt anh một chén trà đã được chế thêm nước trắng, và cái điếu cày, bao thuốc lá, hộp diêm, một cái lon sữa bò đựng tàn thuốc lá. Rồi sau đó, tôi liếc mắt nhìn sang ngôi nhà đối diện. Tôi cũng không dự đoán nổi cái gì sẽ xảy ra từ nay cho đến khi anh viết xong cuốn tiểu thuyết? Nhưng tôi tin chắc với một nỗi lo sợ rằng, dù bom nổ, sét đánh hay động đất thì cũng không thể nhấc anh quẳng ra khỏi cái bàn làm việc của tôi, mà anh đã đến ngồi nhờ. Nhưng tôi cũng tin, với tuổi đời của anh, anh sẽ có cách bàn bạc với chị ấy. Anh chẳng đã từng nói với tôi, tình yêu và gia đình dạy cho người ta biết thu xếp một cách sống liên hiệp là gì? Nhưng tôi tin, dứt khoát từ nay anh sẽ không chịu "sắm vai" nữa! Cuộc sống gia đình chứ đâu có phải là sân khấu? Mới chưa đầy một tháng phải sống cho ra một người hãy còn trẻ mà tóc anh bạc đi thêm bao nhiêu? Mái đầu thì vẫn đen như mun, nhưng dưới các chân tóc, lại vừa thêm rất nhiều sợi bạc, chẳng lẽ chị ấy không thấy? Chẳng lẽ anh, chính anh, chị cũng chỉ coi là một thứ tiện nghi, một thứ "đồ đạc" của chị?
Nguồn: truyenso.com
Thực hiện ebook: Metquathantanay
Thuvien-ebook.com
Hanoi, 11/2007
--------------------------------
copy by Mars Albert
Bạn đang đọc truyện trên: TruyenTop.Vip