vấn đề 4

KINH TẾ TRI THỨC VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI 

QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM

ThS. NCS. BÙI THỊ VÂN

Bộ môn Kinh tế chính trị

Khoa Lý luận chính trị

Trường Đại học Giao thông Vận tải

Tóm tắt: Bài viết khái quát những nội dung cơ bản về kinh tế tri thức và phân tích một số

vấn đề đặt ra đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong xu thế phát

triển của kinh tế tri thức

Summary: This article has an overview of the intellectual economy and analyses some

problems of Vietnam’s industrylization, modernnization in  that  economy

niệm kinh tế tri thức được sử  dụng phổ biến

CT 2

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ   đẩy

mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu

đến năm 2020 về  cơ  bản trở thành một nước

công nghiệp theo hướng hiện đại. Đây cũng là

thời kỳ kinh tế thế giới có bước chuyển biến

sâu sắc từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri

thức. Sự hình thành và phát triển kinh tế tri

thức là xu thế không thể đảo ngược, xu hướng

này cuốn theo tất cả các quốc gia mà không

loại trừ các nước nghèo, kém phát triển, nó có

tác  động mạnh mẽ   đối với các nước    đang

trong quá trình công nghiệp hóa như Việt

Nam.

II. NỘI DUNG 

1. Khái quát chung về kinh tế tri thức

Những năm cuối thế  kỉ XX,  đầu thế  kỉ

XXI, dưới sự tác  động mạnh mẽ  của tiến bộ

khoa học công nghệ, đặc biệt là sự bùng nổ

công nghệ thông tin, nền kinh tế thế giới đang

có bước chuyển từ thời đại của kinh tế công

nghiệp sang thời đại của kinh tế tri thức. Khái

hiện nay do Tổ chức hợp tác và phát triển kinh

tế (OECD) đưa ra năm 1995: “Kinh tế tri thức

là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập

và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất

với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng

cao chất lượng cuộc sống.” Hiểu theo nghĩa

đơn giản, kinh tế tri thức là nền kinh tế trong

đó khoa học - công nghệ, kỹ thuật trở thành

lực lượng sản xuất trực tiếp, là yếu tố quyết

định hàng đầu việc sản xuất ra của cải. Trong

kinh tế tri thức, kỹ thuật cao là nhân tố quyết

định nhất, các ngành kỹ thuật cao trở thành

những ngành mới thúc   đẩy  đổi mới cơ  cấu

kinh tế, tri thức trở thành nhân tố quyết định

nhất của sản xuất, khoa học và công nghệ  trở

thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Nền kinh tế

tri thức bao gồm chủ yếu các ngành kinh tế tri

thức. Các ngành kinh tế tri thức gồm:

- Các ngành sản xuất và dịch vụ mới dựa

trên công nghệ cao như dịch vụ khoa học công

nghệ, công nghệ thông tin, công nghệ sinh

học, các ngành công nghiệp công nghệ cao.

- Các ngành truyền thống như công

nghiệp, nông nghiệpđược cải tạo bằng công

nghệ cao (theo các chuyên gia thì giá trị do tri

thức mới, công nghệ  mới đem lại cho những

ngành này chiếm hơn 2/3 tổng giá trị).

Sự phát triển của nền kinh tế tri thức dựa

trên cơ sở nguồn lực dường như vô hạn, đó tài

nguyên tri thức. Điều này khác biệt so với sự

phát triển của nền kinh tế công nghiệp và

nông nghiệp là dựa vào nền tảng tài nguyên

lao động giản đơn và tài nguyên thiên nhiên-

những nguồn lực có hạn. Nguồn vốn cơ  bản

của một nền kinh tế tri thức là nguồn vốn con

người, vốn vật chất mà cụ thể là kết cấu hạ

tầng và vốn xã hội. Trong đó, nguồn vốn con

người có giáo dục, có tri thức và năng lực

sáng tạo tri thức giữ vai trò là nguồn gốc và

động lực của sự phát triển kinh tế.

Kinh tế tri thức mang lại những cơ hội to

lớn đối với quá trình công nghiệp hóa ở nước

ta. Nó mở ra vận hội mới để Việt Nam có thể

“đi tắt,  đón  đầu” trên conđường phát triển

kinh tế và thu hẹp dần khoảng cách với các

nướcđi trước.  Đồng thời với những cơ  hội,

Việt Nam cũng phải đối mặt với những thách

thức gay gắt như: khó tham gia một cách hiệu

quả vào quá trình phân công lao động quốc tế

bởi chúng ta chủ yếu là nhận sự di chuyển của

ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường,

tiêu tốn năng lượng hoặc cần nhiều sức lao

động... dưới hình thức đầu tư từ các nước phát

triển. Tiếp cận những ngành  được coi là bất

lợi thế này từ các nước phát triển, khiến chúng

ta sẽ phải chịu nhiều bất cập và càng trở nên

tụt hậu xa hơn.

2. Một số vấn đề đặt ra đối với quá trình

công nghiệp hóa, hiệnđại hóaở Việt Nam

trong xu thế phát triển của kinh tế tri thức

- Thứ nhất: Về mô hình công nghiệp hóa

Thực trạng quá trình công nghiệp hóaở

Việt Nam trong thời gian qua cho thấy vẫn

dựa trên căn bản của mô hình công nghiệp hóa

thay thế nhập khẩu, biểu hiện   ở những  đặc

điểm như:

+ Thị trường đầu ra của các doanh nghiệp

Việt Nam, kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu

tư trực tiếp từ  nước ngoài chủ  yếu là thị

trường trong nước (mà chưa tập trung thực

hiệnđược mục tiêu xuất khẩu theo yêu cầu

của một nền kinh tế đang trong quá trình công

nghiệp hóa hướng về xuất khẩu).

+ Trong tổng giá trị xuất khẩu, chủ yếu là

sản phẩm thô, sơ chế (dầu thô, may mặc, hàng

nông lâm, hàng lắp ráp   điện tử...). Tỉ trọng

hàng chế tạo, chế biến còn khiêm tốn. Tỉ trọng

ngành dịch vụ thấp, chỉ chiếm 13,4% tổng

kim ngạch xuất khẩu (mức trung bình của thế

giới là 20,0%).

+ Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng mà

chủ yếu được đẩy mạnh bởi doanh nghiệp nhà

nước và doanh nghiệp có vốn   đầu tư  nước

ngoài trong một thể chế bảo hộ thương mại.

Trong lịch sử, mô hình công nghiệp hóa

thay thế nhập khẩu hay còn gọi là mô hình

“hướng nội” đã được các nước thế giới thứ ba

áp dụng từ những năm 1950. Đây là mô hình

công nghiệp hóa nhằm thay thế các mặt hàng

trước đây phải nhập khẩu bằng sản xuất trong

nước. Thực tế cho thấy ít có sự thành công từ

các nước thực hiện mô hình này. Vì vậy Việt

Nam cần nhanh chóng ra khỏi mô hình này.

Trong bối cảnh của toàn cầu hóa diễn ra

mạnh mẽ và xu thế phát triển của kinh tế tri

thức hiện nay đòi hỏi chúng ta cần phải đẩy

mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

đất nước theo hướng hội nhập, từng bước phát

triển kinh tế tri thức. Mô hình công nghiệp

CT 2

CT 2

hóa theo hướng hội nhập được hiểu bao gồm:

+ Hướng về xuất khẩu.

+  Đồng thời  đẩy mạnh tham gia phân

công lao động quốc tế.   

Mô hình công nghiệp hóa hướng về xuất

khẩu   đã tỏ ra     ưu việt hơn hẳn các mô hình

công nghiệp hóa trướcđó qua sự thành công

của các nền kinh tế công nghiệp mới ở châu Á

(Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông,

...). Đây là mô hình công nghiệp hóa “hướng

ngoại”; đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, dịch vụ

dựa trên lợi thế so sánh để xuất khẩu.

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

ở  nước ta hiện nay cần phải đẩy mạnh tham

gia phân công lao động quốc tế. Phân công lao

động quốc tế hiện nay không chỉ là việc, mua

bán sản phẩm mà còn là phân công mang tính

trực tiếp ở bất kì khâu nào trong chu trình hoạt

động SXKD, từ ý tưởng, nghiên cứu, sản xuất,

maketing, bán hàng, sau bán hàng là xử lí phế

thải... Việt Nam cần nhanh chóng gia nhập

được vào những khâu này mới có thể rút ngắn

được quá trình công nghiệp hóa đất nước.

- Thứ hai: về chuyển dịch cơ cấu ngành

kinh tế

Để thực hiện mô hình công nghiệp hóa

hướng về xuất khẩu cần xây dựng cơ  cấu

ngành kinh tế theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu

nhằm phát huy lợi thế của đất nước, tham gia

vào phân công lao động trên quy mô toàn thế

giới, tận dụng mọi cơ hội của nền kinh tế tri

thức. Việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở

nước ta trong thời gian từ đổi mới đến nay về

cơ bản mới chỉ mang ý nghĩa tạo công ăn việc

làm, nâng cao thu nhập mà chưa thực sự

hướng về xuất khẩu. Thực tế nền kinh tế nước

ta vẫn là một nền kinh tế nông nghiệp với

khoảng 70% số dân sống và làm việc  ở khu

vực nông nghiệp, nông thôn. Trong bối cảnh

chung của sự  cạnh tranh gay gắt giữa các

nước xuất khẩu, các nước   đi sau như Việt

Nam không thể sử dụng nguyên mẫu của các

mô hình có sẵn bởi dưới sự tác động của kinh

tế tri thức, những lợi thế so sánh truyền thống

(lao động rẻ, tài nguyên...) không được đánh

giá cao như trước đây. Sự chuyển dịch cơ cấu

ngành kinh tế  ở  nước ta trong giai  đoạn tới

cần tập trung giải quyết những vấn đề sau:

+  Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện  đại

hóa nông nghiệp, nông thôn gắn với phát triển

kinh tế tri thức theo hướng đẩy mạnh chuyển

dịch cơ  cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn

nhằm tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao,

gắn với công nghiệp chế biến.   Đưa tiến bộ

khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp,

nhất là công nghệ sinh học, thực hiện thủy lợi

hóa, cơ khí hóa, điện khí hóa cho phù hợp với

điều kiện,đặcđiểm của từng vùng, từng địa

phương. Phấn  đấu giảm tỉ trọng lao      động

nông, lâm, ngư nghiệp xuống còn 50% tổng

lao động xã hội và nâng cao tỉ lệ thời gian sử

dụng lao động  ở nông thôn lên khoảng 85%

vào năm 2010.

+ Phát triển các ngành công nghiệp và

dịch vụ gắn với phát triển kinh tế tri thức.

Về nguyên lý, quá trình công nghiệp hóa

bắt đầu từ những ngành tập trung nhiều lao

động, chuyển dần sang các ngành tập trung

nhiều vốn sau chuyển sang những ngành tập

trung nhiều kỹ thuật (tri thức).

Đối với nước ta hiện nay vẫn cần phát

triển ngành sử dụng nhiều lao động. Song phải

xử lí  đúngđắn mối quan hệ giữa phát triển

những ngành sử  dụng nhiều lao    động với

những ngành có hàm lượng khoa học công

nghệ cao.

Quá trình công nghiệp hóa  ở Việt Nam

hiện nay về cơ bản vẫn phải tuân theo quy luật

chung về chuyển dịch cơ  cấu kinh tế ngành

trong thời kì công nghiệp hóa. Đồng thời phải

tích cực tiếp cận những lĩnh vực khoa học,

công nghệ hiệnđại một cách có lựa chọn và

phải có sự chuẩn bị  tốt các điều kiện về con

người, cơ chế chính sách và cơ  sở  vật chất.

Nghĩa là trong   điều kiện thực tế   ở  nước ta

hiện nay, chúng ta chưa thể  dốc toàn lực chỉ

để  tập trung phát triển ngững ngành công

nghệ cao mà vẫn phải chú ý phát triển những

ngành sử dụng nhiều lao động. Song cần nâng

cao mức độ tri thức hóa nền kinh tế quốc dân,

ứng dụng khoa học-công nghệ trong mọi

ngành, nâng cao trình độ của người lao động.

Bước  đầu phát triển một số ngành có hàm

lượng khoa học-công nghệ cao một cách chọn

lọc, sau từng bước chuyển sang những ngành,

những lĩnh vực có hàm lượng khoa học- công

nghệ cao hơn trong sự phân công lao động

quốc tế.

Đẩy mạnh phát triển công nghiệp công

nghệ cao, công nghệ chế  tạo, công nghiệp

phần mềm và công nghiệp bổ trợ có lợi thế

cạnh tranh, tạo nhiều sản phẩm xuất khẩu;

phát triển một số khu kinh tế  mở và đặc khu

kinh tế, nâng cao hiệu quả  của các khu công

nghiệp, khu chế xuất.

Tạo bước phát triển vượt bậc trong lĩnh

vực dịch vụ, nhất là những ngành dịch vụ chất

lượng cao, phát triển mạnh mẽ và nâng cao

chất lượng một số ngành vận tải, thương mại,

du lịch, tài chính, bảo hiểm...

- Thứ ba: Phát triển giáo dục-đào tạo

nguồn nhân lực và khoa học-công nghệ    đáp

ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiệnđại hóa

gắn với phát triển kinh tế tri thức.

Hiện nay các nước trên thế giới chuyển

dịch cơ  cấu sản xuất hướng tới những sản

phẩm có hàm lượng tri thức cao, vì thế để quá

trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế hướng

tới xuất khẩu ở nước ta đạt hiệu quả, cần đặc

biệt coi trọng việc phát triển và     ứng dụng

những thành tựu của khoa học công nghệ vào

sản xuất.  Điều này đòi hỏi trong giai đoạn

trước mắt chúng ta phải   ưu tiên nhập khẩu

công nghệ tiên tiến, bằng sáng chế phát minh,

xây dựng các trung tâm công nghệ cao. Vì vậy

vấn đề đào tạo nguồn nhân lựcđáp ứng nhu

cầu công nghiệp hóa, hiện   đại hóa gắn với

phát triển kinh tế tri thức là nội dung đặc biệt

quan trọng. 

Cốt lõi của kinh tế tri thức là tri thức, tri

thức luôn gắn với con người, do con người tạo

ra và tố chất của con người để có được tri thức

bao giờ cũng gắn với sự nghiệp giáo dục, đào

tạo. Để đào tạo nguồn nhân lực cho kinh tế tri

thức thì trước hết phải có một nền giáo dục

tiên tiến và lành mạnh, phát triển một xã hội

học tập. Ngày nay, do tri thức không ngừng

phát triển, nên người lao động phải được trang

bị kiến thức ở mức cao hơn, chuyên sâu hơn,

đặc biệt là những lĩnh vực liên quan  đến kỹ

thuật để tăng khả năng phổ cập, giải thích và

áp dụng tri thức mới. Chính sách giáo dục  ở

nước ta hiện nay phải nhằm khắc phục tình

trạng ngày càng thiếu hụt lao động có trình độ

cao đặc biệt về công nghệ thông tin và tri thức

trong khi lao    động giản  đơn, dư thừa quá

nhiều.

Trong giai  đoạn trước mắt chúng ta cần

tăng cường đầu tư vào việc phổ cập giáo dục

cơ  bản, xây dựng cơ  sở  hạ  tầng hướng vào

người nghèo để giải quyết căn bản tình trạng

quá nhiều lao động giản đơn và đáp ứng nhu

cầu phát triển nền kinh tế chú trọng phổ biến

thông tin và tri thức    đến các tầng lớp dân

CT 2

CT 2

chúng. Đồng thời, cần tăng đầu tư vào giáo

dục đại học và sau đại học, đặc biệt là các lĩnh

vực kỹ thuật   để thu nhận   được công nghệ

trong một thế giới thường xuyên có sự biến

chuyển tri thức. Khuyến khích liên kết giữa

các trường đại học, viện nghiên cứu trong đào

tạo, nghiên cứu vàứng dụng, triển khai,  đổi

mới phương pháp và giáo trình giảng dạy.

III. KẾT LUẬN

Quá trình phát triển kinh tế tri thức cùng

với xu hướng toàn cầu hóa đang tác động to

lớn tới cấu trúc kinh tế, phương thức hoạt

động và tổ chức quản lý về kinh tế, xã hội

trong mỗi quốc gia. Nó mở ra nhiều cơ  hội

cho các nước đang phát triển như nước ta có

thể “đi tắt, đón đầu” trên con đường phát triển

kinh tế và thu hẹp khoảng cách tụt hậu. Kinh

tế tri thức  đặt ra những vấnđề  mới cho quá

trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

trong giai đoạn tới  ở  nước ta. Chúng ta cần

phải thực hiện đồng thời cả hai nhiệm vụ công

nghiệp hóa và tri thức hóa  để đưa  đất nước

phát triển, hội nhập vào kinh tế thế giới. Vì

thế, phải có ý thức và chủ  động tiếp cận, sử

dụng mọi mặt tích cực của kinh tế tri thức vào

quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại

hóa ở nước ta.

Tài liệu tham khảo

[1].  Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội

đại biểu toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX, X

[2].  Đặng Hữu: “Kinh tế tri thức với chiến lược

phát triển của Việt Nam”, bài viết cho Hội thảo về

kinh tế tri thức tháng 6/2000.

[3].  Nguyễn Xuân Thắng: “Kinh tế tri thức: kinh

nghiệm của một số nước phát triển”, tạp chí những

vấn đề kinh tế thế giới số 5/2000♦

Bạn đang đọc truyện trên: TruyenTop.Vip

Tags: #atari